CHƯƠNG 1 TONG QUAN HỆ THONG THỦY LỢI SÔNG NHUE VÀ TIỂU VUNG YEN NGHĨA - LIÊN MAC wie 1. TONG QUAN HE THONG THỦY LỢI SÔNG NHUỆ: LALA. VỊ tr ajay Hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ được bao bọc bởi sông Hỗng ở phía đông và bắc,sông Dây ở phí tây, sông Châu Giang ở phít nam, kéo đài từ 20°32°40° đến 21090” vĩ độ bắc, 105°37°30" inh độ đông, bao gồm một phần điện tích đất dai của Thủ đô Hà Nội và tỉnh Hà Nam: + Thủ đô Hi Nội có 9 quận nội thành nằm phía bờ nam sông Hồng gồm Ba Dinh, Hoàn Kiếm, Tây Hỗ, Cầu Giấy, Déng Da, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Thanh Xuan, Hà Đông và 8 huyện nằm phía đông sông Day gồm Đan Phượng, Hoài Đức, “Từ Liêm, Thanh Trì, Thanh Oai, Ứng Hoà, Thường Tín, Phú Xuyéi ~ Tỉnh Hà Nam có thành phố Phủ lý và 2 huyện Duy Tiên, Kim Bảng nằm phía bắc sông Châu Giang và phía đông sông Diy. Hệ thống Thủy lợi Sông Nhuệ có tổng diện tích tự nhiên phan nằm trong đê là 107.530 ha tong dé khoảng 75.342 ha là đắt canh tác.
Tính đến ngày 3 2-2005 din sổ cin các quận huyện trong hệ thing có khoảng trên 4,15 triệu người. So với 15 năm trước đây (1994), din số các địa phương nó trên đã tăng khoảng L2 triệu người với tốc độ tăng trung bình mỗi năm 2,53 % 1. Quá trình nghiên cứu, xây dựng và phát triển hệ thống thuỷ lợi Sông Nhuệ 1. Thời kỳ phong kiến Để đầu tanh với thiên tai, phòng chống lũ lục từ ngần xưa người dân Hà Nội, Hà Tây (cũ) và Hà Nam đã bỏ nhiều sức người và sức của tôn tạo nên các tuyển đê đọc theo sông lồng, sông Day.
Dé sông Hồng bao bọc phín bắc và phi đông hệ thống là tuyển để được xây dụng lâu đời nhất Việt Nam 1.2 Thời kỳ thuộc Pháp Năm 1932 người Pháp đã nghiên cửu quy hoạch xây dựng hệ thống công. trình thấy lợi cho một vàng lớn bao bọc bởi sông Hồng, sông Bay và sông Châu Giang với diện tích tự nhiên 107.530 ha (tại thời điểm đó có 94.000 ha dat canh tác). đã chính thức hình thành hệ thống thủy nông Liên Mac - Phủ Lý (hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ ngày nay). Theo quy hoạch này, sông Hồng là nguồn cung cấp nước tưới, sông Day là nơi nhận nước tiêu và sông Nhuệ là trục chính tưới tiêu kết hợp.
của hệ thống, Và hà gloat công tình thủy lợi lớn được để xuất xây dụng để đáp ứng yêu cầutưới, tiêu và phòng chống lũ cho khu vực như sau: 1. VỀ tưới “Các chân ruộng có cao độ trên 7,5 m và đưới 1,5 m không đặt vin để tưới, Hệ số tưới áp dụng cho những chân ruộng có cao độ từ 1,5 m đến 2,0 m là 020 Usha, từ 2/0 m đến 4.15 là 0,5 Usha, từ 4,14 m đến 7,5 m là 0,6 Usha, Để đảm bảo cấp nước tưới cho hệ thống, quy hoạch 1932 đã dé xuất xây dựng các công trình chính như : cổng Liên Mac; các cổng đập điều tiết Hà Đông, Đồng Quan, Nhật Twu, Điệp Sơn, 60 cống lẫy nước tưới. đọc theo các trục tưới tiêu kết hợp. Về tiêu a) Xây dựng Đập Bay và đập Nam Dinh với nhiệm vụ chắn lũ sông Hồng, hạ thấp mực nước sông Day tại Phủ Lý xuống cao trình + 1,20 m để tiêu tự chảy cho toàn hệ thống với hệ sti utrùng bình 1,50 Us ha.
b) Xây dựng các cổng và đập điều tiết trên sông Nhuệ và sông Duy Tiên 3) Xây dưng các cổng tiêu tự chảy ra sông Bay và chin lũ sông Đầy "Đến trước năm 1954, trên hệ thống Sông Nhuệ mới xây dựng được Đập Diy (1934-1937), các cổng tiêu ra sông Day gồm Lương Cỏ (1936-1938), La Khê, Vân Đình (1938-1940) và 50 cổng tiêu nằm dưới bờ các trụ tiêu chính 1. Thời kỳ 1954 - 1973 ‘Dau năm 1955, nhân din Hà Tây (cũ) đã ra quân rằm rộ đảo khai thông cửa cổng Liên Mạc „ nạo vét trục chính sông Nhuệ, đảo mới hàng loạt các tuyển kênh sắp 2 nên đã phục hồi được nguồn nước đảm bảo tưới tự chảy cho 30. Tir năm 1955 đến trước năm 1973 đã có 3 lần nghiên cứu bổ sung quy hoạch xây dựng thêm các công tình trên hệ thống (thục hiện vào các năm 1960, 1965 và 1969) 1. Về tưới Kết luận của quy hoạch 1960 và 1965 không khác nhiều so với quan điểm của quy hoạch năm 1932, chủ yêu là điều chỉnh bổ sung thêm các tram bơm tưới hoàn thiện vùng tưới tự chảy.Tính đến năm 1973 trên hệ thống đã xây dựng được.
23 tram bơm tưới với tổng hưu lượng thiết § dat 44.34 mÏ/s phụ trách diện tích tưới lên đến 45. (Các quy hoạch lập năm 1959-1960 và 1965 đã nghiên cứu tính toán lại phương án làm đập Nam Định và chứng minh ring phương én này không có hiệu quả. Thời ky này vẫn tiếp te nghiên cứu mở rộng khả năng tiêu tự chảy của hệ thống ra sông Day bằng việc xây dựng thêm một số cống tiêu qua dé sông Day như. Quế, Bược, Lạc Tràng, oại Độ.Mặt khác, khả năng Mi tự chảy ngày một khó.
khăn nên từ đầu những năm 60 của thé ky trước, ý định xây dựng trạm bơm để tiêu cho các ving trùng đã hình thành và mau chóng được triỂn khai. Đến trước năm 1973 toàn hộ thống Sông Nhu đã xây dụng được 41 trạm bơm tiêu có tổng lưu lượng thiế ¢ lên tới 234,47 mÏ/s phụ trách lưu vực rộng trên 58. Thời kỹ 1973 - 1997 Năm 1973-1974, hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ chính thức được nghiên cứu lập ‘quy hoạch hoàn chỉnh. Khác với các lẫn nghiên cứu trước diy, nghiên cứu lẫn này là hoàn chỉnh nhất.
Dưới đây là t6m tắt một số nội dung chính của quy hoạch 1973-1974: 1. Về tưới Kết quả nghiên cứu, tính toán khẳng định nguồn nước đã đủ bảo đảm, chỉ cin hoàn chỉnh cho một số trạm bơm tưới cho vùng cao cục bộ, hoàn chỉnh hệ thống kênh mương và các công trình trên kênh. Về tiêu “Theo cơ cấu tổ chức quản lý điều hành hệ thống, quy hoạch 1973-1974 đã chia "hệ thống thành 9 tiểu vùng với tổng diện tích tiêu ra các s ng như sau: ra sông Hing cho 13.718 ha do 4 trạm bơm lớn ph trách là: Vĩnh Tuy, Khi Thí, Yên Lệnh re sông Day 44247 ha bằng các trạm bơm trong d Vin Binh, Ngoyi Độ, (Qué, Lạc Tràng ~ Tiêu ra sông Nhu 46.300 hà và sông Chiu Giang 3.265 hà trong đó có 10326 diện cy, 39239 ha côn li được tu bằng động lục do 28 tram bom phụ tách. Sử dụng sông Nhuệ vào vận tải thủy Cai tạo sông Nhuệ đáp ứng y cầu vận tải thủy cho các tau day 90 mã lực và sà lan dưới 100 tắn di lại dễ đàng.
Mở 5 âu tàu là Lương Cổ, Nhật Tựu, Đồng Quan, Hà "Đông và Liên Mạc. Lam li các cầu rên sông “Theo quy hoạch 1973 - 1974 toàn bộ vùng phía tây sông Nhuệ được tiêu ra ông Day bằng 62 trạm bơm tiêu lớn nhỏ với lưu vực rộng tới 20. Thời kỳ 1997- 2007 ‘Tir năm 1980 trở đi tỉnh trạng Ging tên hệ thống Sông Nhuệ đã diễn ra thưởng xuyên với mức độ ngày một nghiêm trọng hơn mã định điểm là năm 1994 số tới 35,000 ha đắt canh tác bị ting ngập năng. Trong bỗi cảnh đồ, năm 1995 việc nghiên cứu rà soát bổ sung quy hoạch được tiễn hành với nội dung được ww tiên số 1 là giải quyết vẫn đề tiêu thoát nước cho hệ thông.
Dưới đây là một số nội dung chính của quy hoạch đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt. VỀ tối Quy hoạch xác định rõ tổng diện tích canh tác lấy nước trực tiếp từ sông Nhuệ qua công Liên Mạc là 53.769 ha trong đó khu vực phía trên Đồng Quan có 21.288 ha và Khu vực đưới Đồng Quan là 32.481 ha, Hệ số tưới dưỡng ấp dụng chung cho hệ thing (gi mặt mộng) là 0.89 Usha, Mặt khác, quy hoạch cũng khẳng định năng lực của cổng Liên Mạc cũng như các hang mục công tình khác trong hệ thống có thé đáp ứng được nhu cầu cấp nước tưới đến sau năm 2000, Ngoài ra, quy. hoạch còn đỀ xuất là phải nạo vét lòng dẫn. cải tạo và năng cấp trục chính sông Nhug và sông Duy Tiên để đáp ứng yêu cầu dẫn nước, nâng cấp các công tinh phục vụ tưới khác 2.
Về tiêu Quy hoạch 1995-1997 kế thừa các nguyê tức phân ving và xác định ranh giới vùng tiêu trong quy hoạch 1973-1976 chia hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ được chia thành 4 vùng tiêu lớn theo hướng tiêu ra các sông với quy mô như sau: - Vùng iêu ra sông Hồng có 18.432 ha bao gdm lưu vực tiêu của các tram bơm Nam Ha Nội (Yên $6), Đông Mỹ, Bộ Đầu, Khai Thái, Yên Lệnh. = Vũng tiêu ra sông Đây bao gm lưu vực tiêu của các trạm bom đã xây dựng như Song Phương, Van Dinh, Ngoại Độ, Qué và một sổ tạm bơm nhỏ khác có tổng diện tích tiêu 29974 hà + Vùng tira sông Nhuệ có diện tích tiêu là 47.423 ha (có 6080 ha tiêu tự chủy) bao gằm toan bộ vùng Đan Hoài ở phí ty sông Nhu, lưu vực cũ các tram bơm đã xây dưng iều vào sông Nhu - Ving tiêu vào sông Duy Tiên và sông Châu Giang được giới hạn bởi sông Duy Tiên ở phía đông, sông Mai Trang ở phía đông bắc, sông Cha Giang ở phía nam và quốc lộ LA ở phía tây. Diệních tiêu của vùng là 11.701 ha “Theo mô hình t6 chức quản lý, hệ thống Sông Nhuệ được chia thành 9 tiểu. vùng do các Công ty khai thác công trình thủy lợi phụ trách lit Dan Hoài Từ, La Khê, Nam Ứng Hòa, Kim Bảng, Hà Nội Thanh Trì, Hồng Van, Phú Xuyên, Duy Tiên 10 3.
Các công trình dé xuất trong quy hoạch ~ Cải tạo và nâng cắp trục chính sông Nhuệ và sông Duy Tiên + Cũ tạo, năng cắp các cổng Lương Cổ và Nhật Tựu ~ Xây dựng các trạm bơm sau đây tiêu ra sông Bay như: Ngoại Độ Hl, Qué Ik ~ Xây dựng tram bơm Tiên Hồng tại vị trí tram bơm Lạc Tring cũ Sau khi hoàn thành nâng cấp hệ thống để sông Nhuệ đảm bảo mặt cất ổn định, cho phép xây dựng các công trình trên các vùng như: tiểu vùng Hồng Vân, vùng phía tây sông Tô Lịch thuộc tiga vùng Hà Nội.