Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN, NƯỚC BIỂN DÂNG ĐỐI VỚI SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG 1. Tổng quan về xâm nhập mặn, nước biển dâng trên thế giới và tại Việt Nam 1. Tổng quan về xâm nhập mặn, nước biển dâng trên thế giới Biến đổi khí hậu (BĐKH) là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn, nước biển dâng tại tất cả các vùng đất trên thế giới. Khí hậu trái đất đã nhiều lần biến đổi theo tự nhiên từ thời kỳ băng hà cho đến thời kỳ trái đất nóng lên cách đây vài triệu năm.
Sự biến đổi nhiệt độ đó diễn ra trong thời gian rất dài, nhiệt độ trung bình của mặt đất đã tăng thêm 0,74oC kể từ cuối những năm 1800, dự đoán đến năm 2100 nhiệt độ bề mặt trái đất sẽ tăng từ 1,8oC đến 6,4oC. Tuy nhiên hiện nay nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trái đất nóng lên nhanh chóng lại là do các hoạt động của con người. Theo ước tính 90% nguyên nhân gây ra BĐKH là do con người với các hoạt động công - nông nghiệp, với sự gia tăng việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch làm tăng nồng độ khí nhà kính; 10% là do tự nhiên có tính chu kỳ trong lịch sử hình thành và phát triển của trái đất. Theo tính toán của tổ chức Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (viết tắt là IPCC), trong những thập niên gần đây, nhiệt độ trái đất tăng trung bình 0,3oC mỗi thập niên.
Mưa trở nên thất thường hơn, cường độ mưa thay đổi. Những vùng mưa nhiều, lượng mưa càng trở nên nhiều hơn, cường độ mưa càng lớn hơn. Các vùng hạn lại trở nên hạn hơn. Toàn bộ mặt đệm, cả mặt đất và đại dương đều nóng lên đặc biệt là ở các vĩ độ cao dẫn đến hiện tượng tan băng tại các vùng cực, gây nên hiện tượng rất đáng quan tâm là nước biển dâng.
Tần suất và cường độ hiện tượng El-Nino tăng, gây lũ lụt và hạn hán ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới. Do ảnh hưởng của BĐKH, khoảng chục năm gần đây nhiều thảm hoạ thiên tai lịch sử đã diễn ra: Trận cuồng phong Mitch tháng 10/1998, đã tạo nên một con đường tàn phá ngang qua các nước ở Trung Mỹ: Honduras, Nicaragua, El Salvador, Guatemala và Belize làm hơn 18.000 người chết khi mưa gây lở đất và cuốn trôi các ngôi làng. Tháng 10/1999, trận siêu bão có sức gió 250km/h quét qua bang Orissa 5 phía đông Ấn Độ, giết hại trên 10.000 người và đẩy 1,5 triệu người khác vào cảnh “màn trời chiếu đất”. Tháng 12/2004, trận động đất dữ dội nhất trong vòng 40 năm qua đã tạo nên những đợt sóng thần tại Ấn Độ Dương, ngay trong ngày đầu đã có hơn 50.000 người thiệt mạng ở 8 nước Nam Á, Đông Nam Á và 4 nước Đông Phi.
Cơn bão Katrina tháng 8 năm 2005 với sức gió 225km/h đã tàn phá miền đông nam Hoa Kỳ, trở thành thiên tai kinh hoàng và tốn kém nhất trong lịch sử nước này kể từ trận động đất tại San Francisco năm 1906 đến nay. Ngày 4/5/2008 bão Nagis tàn phá Myanma làm 22.000 người thiệt mạng, 41.000 người bị mất tích. Động đất ở Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày 12/5/2008 đã làm thiệt mạng và mất tích hơn 90. Gần đây nhất, ngày 8/11/2013 siêu bão Haiyan là một trong 4 siêu bão mạnh nhất trong lịch sử nhân loại đã đổ bộ vào Philippines, với sức gió giật mạnh 379km/h, sóng cao tới 6m, gây mưa lớn và làm thiệt hại tính mạng 1800 người.
Có thể nhận thấy các thiên tai bão lũ ngày càng trở nên nguy hiểm hơn với cường độ tăng lên không ngừng và với tần suất xuất hiện nhiều hơn, có sức tàn phá vô cùng nặng nề. Hiện tượng BĐKH không chỉ biểu hiện qua sự xuất hiện của các cơn bão lớn mà nó còn biểu hiện qua sự gia tăng mực nước biển dâng tại các vùng đất trên thế giới. Theo các nghiên cứu khoa học cho thấy, mực nước biển trên toàn thế giới đã và đang tăng lên với tỷ lệ là 0,14 inch (3,2mm) mỗi năm kể từ đầu những năm 1990. Một nghiên cứu gần đây cho rằng chúng ta có thể đối diện mực nước biển đại dương tăng lên từ 2,5 đến 6,5 feet (0,8 và 2 mét) vào năm 2100.
Theo Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) cho biết mực nước biển tăng cao kỷ lục vào tháng 3/2013. Tốc độ mực nước biển dâng hiện tại là 3,2mm/năm, cao gấp đôi con số 1,6mm/năm của thế kỷ 20. Khi mực nước biển tăng lên nhanh chóng sẽ có tác động tàn phá môi trường sống ven biển. Cùng với nước biển dâng, tác động xâm thực bờ biển sẽ tăng lên đột biến.
Một mặt nước biển theo nước sông dâng lên vào mùa khô và tràn vào các kênh dẫn gây mặn. Mặt khác những vùng đất ven biển bị ngập nước có nguy cơ nhiễm mặn do thẩm thẩm hoặc do tiềm sinh. Những vùng đất này sẽ mất khả năng sản xuất và môi trường sinh thái sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng. Ba vùng châu thổ sông Mekong, sông Irrawaddy và sông Chao Phraya - tất cả những diện tích đất quan trọng nằm dưới 2m so với mực nước biển - đặc biệt bị nguy hiểm.
Nông nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và du lịch là những ngành dễ bị tác động nhiều nhất 6 do biến đổi khí hậu ở những vùng đồng bằng này. Các thành phố vùng duyên hải, với sự tập trung dày đặc về mật độ dân số và tài sản vật chất, cũng đang bị đặt trước nguy cơ những cơn bão cường độ mạnh, nước biển dâng trong thời gian dài, và những trận bão ven biển bất ngờ. Thành phố Bangkok, Hồ Chí Minh, Jakarta, Manila và Yangon là những thành phố được dự đoán sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Theo đánh giá của ngân hàng thế giới, các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam sẽ là những nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của tình trạng xâm nhập mặn, nước biển dâng trong những năm sắp tới.
Tổng quan về xâm nhập mặn, nước biển dâng tại Việt Nam Việt Nam là nước có đường bờ biển dài 3.260km không kể các đảo. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển Đông. Trong vòng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình hàng năm ở Việt Nam đã tăng khoảng 0,7oC, các tỉnh miền Bắc nhiệt độ gia tăng nhiều hơn các tỉnh miền Nam, đặc biệt trong các tháng mùa hè với biên độ lớn hơn. Mức tăng nhiệt độ theo xu thế trong 50 năm qua (1958-2007) ở các vùng khí hậu và trung bình cho cả nước Vùng khí hậu Số lượng Nhiệt độ (oC) trạm Tháng I Tháng VII Trung bình năm Tây Bắc Bộ 19 1,4 0,3 0,5 Đông Bắc Bộ 33 1,5 0,5 0,6 Đồng bằng Bắc Bộ 42 1,4 0,5 0,6 Bắc Trung Bộ 26 1,3 0,5 0,5 Nam Trung Bộ 11 0,6 0,4 0,3 Tây Nguyên 12 0,9 0,4 0,6 Nam Bộ 18 0,8 0,4 0,6 Trung bình cả nước 181 1,2 0,4 0,56 (nguồn: PGS.TS Đinh Vũ Thanh, PGS.TS Nguyễn Văn Viết, BĐKH toàn cầu và ở Việt Nam) Trong xu thế BĐKH toàn cầu, Việt Nam cũng chịu những tác động nặng nề: - Biến đổi về lượng mưa: Mưa có xu thế tăng ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, 7 nhưng hầu hết có xu thế giảm ở các khu vực khác.
Tuy nhiên cường độ mưa ở các trận mưa lại có xu thế tăng lên. - Bão: Số cơn bão có xu thế tăng dần từ năm 1950-1989 và đang có xu thế giảm từ năm 1990 đến nay. Số lượng cơn bão đổ bộ vào Việt Nam giai đoạn 1950-2012 Thán 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tổn g g 1950- 0 1 0 1 1 4 5 11 9 9 7 3 50 1959 1960- 0 1 0 1 1 5 11 13 19 12 8 1 72 1969 1970- 0 0 0 0 2 9 7 13 18 15 10 4 78 1979 1980- 0 0 2 0 1 9 10 9 9 24 11 2 77 1989 1990- 0 0 0 1 0 6 8 10 12 14 15 5 71 1999 2000- 2 0 0 1 3 5 7 8 17 8 11 1 63 2009 2010- 2 0 1 0 0 6 3 4 0 3 1 0 20 2012 TB 0,0 0,0 0,0 0,0 0,1 0,7 0,8 1, 1,3 1,3 1,0 0,2 6,95 6 2 5 6 3 1 2 1 5 7 2 6 (nguồn: tổng hợp từ nguồn của MARD, 1950-2012) Trong năm 2013, Việt Nam cũng gánh chịu thêm khoảng 10 trận bão với cường độ gió và sức tàn phá rất lớn. - Mực nước biển: Trong vòng 50 năm qua, mực nước biển trung bình dâng với tốc độ 3-4mm/năm, nghĩa là trong nửa thế kỷ qua, mực nước biển ở Việt Nam tăng lên khoảng 15-20cm.
Số liệu quan trắc cho thấy: + Mực nước biển trung bình thời kỳ gần đây (1991-2008) cao hơn thời kỳ 8 1961-1990 là 7,2cm ở Hòn Dấu và 3,5cm ở Vũng Tàu và Sơn Trà. + Mực nước biển cao nhất thời kỳ gần đây (1991-2008) cao hơn thời kỳ 1961-1990 là 7,8 cm ở Hòn Dấu; 0,5cm ở Vũng Tàu song thấp hơn 0,5cm ở Sơn Trà. + Mực nước biển thấp nhất thời kỳ gần đây (1991-2008) cao hơn thời kỳ 1961-1990 là 2,7 cm ở Hòn Dấu; 5cm ở Sơn Trà và 11cm ở Vũng Tàu. Mấy năm trở lại đây, các đợt triều cường thường xuyên diễn ra, nhất là trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long gây ngập lụt cho các tỉnh miền Nam, đặc biệt là các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống và sản xuất.
- Hạn hán: Lượng mưa giảm trong mùa khô, gây ra hạn hán tại nhiều nơi. Hạn hán có xu hướng mở rộng ở hầu hết các vùng, đặc biệt là ở các tỉnh Nam Trung bộ dẫn đến tình trạng hoang mạc hóa. Hai vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của tình trạng hạn hán là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. + Đồng bằng sông Hồng: có tổng diện tích đất nông nghiệp gần 800.
Trong vài năm trở lại đây, mực nước ở hạ du tại Hà Nội giảm thấp và có chiều hướng ngày càng trầm trọng. Dòng chảy trên hệ thống các sông chính ở đồng bằng sông Hồng mùa kiệt xuống thấp gây ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế, môi trường và dân sinh của hạ du, trong đó diện tích đất lúa thường xuyên bị hạn khoảng 233. Mực nước ở các cửa cống lấy nước tự chảy vào hệ thống và các trạm bơm tưới hai bên bờ sông Hồng luôn thấp, gây khó khăn cho hoạt động tưới của các trạm bơm.