Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương II: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Chương III: Thực trạng áp dụng các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng may mặc sang thị trường mỹ của công ty TNHH Đầu tư Sản xuất và Dịch vụ Nguồn Việt Chương IV: Định hướng phát triển và đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng may mặc sang thị trường Mỹ của công ty TNHH Đầu tư Sản xuất và Dịch vụ Nguồn Việt 7 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÀNG MAY MẶC SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2. Khái niệm và đặc điểm xuất khẩu Khái niệm: Theo giáo trình Thương mại quốc tế và phát triển thị trường xuất khẩu của Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân (NXB Thống Kê, 2003), "xuất khẩu hàng hóa là việc những sản phẩm hàng hóa hữu hình được sản xuất hoặc gia công tại các cơ sở sản xuất và các khu chế xuất với mục đích để tiêu thụ tại thị trường ngoài nước (xuất khẩu) đi qua hải quan” Bản chất của xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán hàng hóa và dịch vụ trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá, sử dụng tiền tệ làm phương thức thanh toán. Đây không phải là hành vi mua bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân.
Đặc điểm của xuất khẩu Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu là một mặt của hoạt động thương mại quốc tế nên nó cũng có những đặc trưng của hoạt động thương mại quốc tế và nó liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế như bảo hiểm quốc tế, thanh toán quốc tế. Thứ hai, hoạt động xuất khẩu diễn ra trong phạm vi không gian và thời gian rất rộng bởi có sự tham gia của hai hay nhiều bên, thuộc địa phận quốc gia khác nhau, đồng thời, việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hóa diễn ra trong khoảng thời gian lâu hơn rất nhiều so với các hoạt động mua bán nội địa. 8 Thứ ba, hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc hàng hóa thiết bị công nghệ cao, bất cứ mặt hàng nào mà quốc gia đó có lợi thể so sánh để thu về ngoại tệ. Thứ tư, hoạt động xuất khẩu không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước nhờ tích lũy khoản thu ngoại tệ cho đất nước.
Kinh doanh xuất nhập khẩu còn là phương tiện để khai thác các lợi thế về tự nhiên, vị trí địa lý, nhân lực. Thứ năm, các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu như hoạt động thanh toán quốc tế, thuê phương tiện vận tải, đàm phán ký kết hợp đồng, những tranh chấp thương mại. đều phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro. Ngoài ra, thị trường xuất khẩu thường khó tiếp cận hơn thị trường trong nước do có nhiều nhân tố ràng buộc hơn, nhu cầu và cách thức đáp ứng nhu cầu của khách hàng nước ngoài cũng có sự khác biệt hơn so với khách hàng trong nước.
Phân loại xuất khẩu 2. Xuất khẩu trực tiếp Theo Giáo trình Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Thương mại (2021), "Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động theo đó doanh nghiệp sản xuất hoặc thu mua hàng hóa ở thị trường trong nước rồi trực tiếp bán cho người mua ở thị trường nước ngoài mà không sử dựng các trung gian thương mại.” Với hình thức kinh doanh này, doanh nghiệp sẽ tự mình thực hiện tất cả các phần công việc liên quan đến xuất khẩu. Vì thế, doanh nghiệp có thể trực tiếp kiểm soát hoạt động phân phối, xây dựng nhãn hiệu, cũng như định giá các sản phẩm do mình cung cấp. Bên cạnh đó, việc xuất khẩu trực tiếp giúp doanh nghiệp tham gia vào các khâu trong hoạt động xuất khẩu sản phẩm của mình sang thị trường nước ngoài, bởi vậy doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với thị trưởng và khách hàng để hiểu được rõ nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của họ cũng như nhanh chóng nắm bắt được những cơ hội mới.
9 Tuy nhiên, xuất khẩu trực tiếp cũng có những hạn chế nhất định mà doanh nghiệp cần lưu ý chẳng hạn như cần chi phí thực hiện cao hơn, đòi hỏi phải có kiến thức nhất định về thị trưởng nước ngoài mà doanh nghiệp tiếp cận, cũng như khả năng vượt qua những trở ngại trong kinh doanh ở thị trưởng nước ngoài. Nghiệp vụ xuất khẩu trực tiếp có thể được thực hiện bởi bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp đặt ở trong nước hoặc thông qua công ty con hoặc chi nhánh đặt ở thị trường nước ngoài. Xuất khẩu gián tiếp Theo Giáo trình Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Thương mại (2021), "Xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu hàng hóa khi nhà xuất khẩu không làm việc trực tiếp với người nhập khẩu ở nước ngoài mà sẽ thông qua một bên thứ ba thường được gọi là trung gian thương mại đế thực hiện các phần công việc liên quan." Để bán và phân phối các sản phẩm của mình ở thị trường nước ngoài, người sản xuất sử dụng các bên trung gian thương mại là những người có chức năng xuất khẩu thực hiện cho mình. Với hình thức kinh doanh này, doanh nghiệp sản xuất hay nhà xuất khẩu trong nước sẽ không thực sự tham gia vào hoạt động tiếp thị và bán hàng ở thị trường nước ngoài.
Trong thực tế, phương thức xuất khẩu gián tiếp thường được lựa chọn bởi các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, chưa đủ điều kiện để trực tiếp thực hiện hoạt động xuất khẩu, hoặc coi phẩn lợi nhuận đem lại từ hoạt động xuất khẩu chỉ là phần phụ trong tổng toàn bộ lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp. Ngoài ra, đây cũng là phương thức được một số doanh nghiệp lựa chọn khi muốn từng bước xâm nhập thị trường quốc tế hoặc thử nghiệm thị trường mới trước khi chuyển sang các dạng thức khác đòi hỏi mức độ đầu tư nguồn lực và mức độ gắn kết với thị trường cao hơn. Song, sử dụng hình thức này, doanh nghiệp sẽ không thể bám sát thị trường và kiểm soát chặt chẽ việc xuất khẩu và tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ của mình ở thị trưởng nước ngoài. Kênh phân phối và tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nước ngoài có thể không phù hợp với thói quen mua sắm và tiêu dùng của người dân bản địa dẫn đến việc tiêu 10 thụ hàng hóa không đạt được kỳ vọng ra.
Hoặc cách thức mà đội ngũ nhân viên của các công ty trung gian cung cấp hàng hóa và dịch vụ với chất lượng không đảm bảo gây tổn hại đến danh tiếng và hình ảnh của doanh nghiệp cũng như của sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp trên thị trường. Việc không bám sát với thị trường còn có thể khiến doanh nghiệp không nắm được rõ nhu cầu và đặc tính tiêu dùng của khách hàng ở thị trường nước ngoài dẫn đến bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh tiềm năng. Gia công quốc tế Gia công quốc tế là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hay nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao, trong đó bên đặt gia công hoặc bên nhận gia công là thương nhân nước ngoài. Trong hình thức này, hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất.
Các yếu tố tác động tới xuất khẩu mặt hàng may mặc ra nước ngoài 2. Môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố, các nhân tố (bên ngoài và bên trong) vận động tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh trong và ngoài nước là một trong những yếu tố quyết định tới các quyết định của doanh nghiệp xuất khẩu về thị trường tiềm năng, nhà cung cấp, chiến lược,… Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu bao gồm cả những yếu tố bên trong (Văn hóa tổ chức, Cơ cấu tổ chức, Cấu trúc quản lý,…) và yếu tố bên ngoài (Các yếu tố kinh tế vĩ mô, Các yếu tố kinh tế vi mô, Các yếu tố xã hội…). Với sự tác động của môi trường kinh doanh sẽ hoặc là tích cực theo nghĩa tạo cơ hội hoặc tiêu cực với nghĩa ngược lại là tiêu cực cho xuất khẩu của doanh nghiệp.
Từ đó, đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu phải luôn luôn theo dõi, nghiên cứu môi trường kinh doanh ở mọi cấp độ. Quản lý Nhà nước Thông qua mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế thì chính phủ có thể đưa ra các chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu. Chẳng hạn chiến lược phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa đòi hỏi xuất khẩu để thu ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu các trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất, mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước đưa ra các chính sách khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng… Một số yếu tố mà Nhà nước có thể sử dụng để điều chỉnh các hoạt động xuất khẩu có thể kể đến như: Thuế quan Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng xuất khẩu. Việc đánh thuế xuất khẩu được chính phúc ban hành nhằm quản lý xuất khẩu theo chiều hướng có lợi nhất cho nền kinh tế trong nước và mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại.
Tuy nghiên, thuế quan cũng gây ra một khoản chi phí xã hội do sản xuất trong nước tăng lên không có hiệu quả và mức tiêu dùng trong nước lại giảm xuống. Nhìn chung công cụ này thường chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng nhằm hạn chế số lượng xuất khẩu và bổ sung cho nguồn thu ngân sách.