chương 1 này, tác giả sẽ xem xét một cách ngắn gọn một số quan điểm của những nhà quản trị khác nhau về chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi cung ứng và các khái niệm có liên quan. Bên cạnh đó, để hình dung rõ hơn về bức tranh tổng thể của chuỗi cung ứng, cuối chương sẽ trình bày những bài học kinh nghiệm về xây dựng mô hình chuỗi cung ứng tại một số nước trong khu vực.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 1.1 Chuỗi cung ứng (SC - Supply chain) và Quản trị chuỗi cung ứng (SCM - Supply chain management) Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt của thị trƣờng toàn cầu hiện nay, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng nhƣ khách hàng của những nhà cung cấp này.1] Điều này có nghĩa, doanh nghiệp phải dành sự quan tâm sâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển của nguyên vật liệu, cách thức đóng gói sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp, cách thức vận chuyển và bảo quản sản phẩm, và những yêu cầu của khách hàng… Không những vậy, sự phát triển của xã hội đã kéo theo những yêu cầu và sự kỳ vọng của ngƣời tiêu dùng đối với sản phẩm/ dịch vụ ngày càng cao, điều này đã thúc đẩy doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lƣợng sản phẩm, kiểm soát 17 đƣợc chi phí liên quan, và quan trọng hơn hết là tập trung xây dựng chuỗi cung ứng bền vững.1 Khái niệm chuỗi cung ứng (SC - Supply Chain) Vào những năm cuối thập niên 50, với nghiên cứu tiên phong về dòng chảy của hàng hóa từ nhà cung cấp đến tay ngƣời tiêu dùng và mối quan hệ giữa các thành viên tham gia, là ngƣời phát hiện ra hiện tƣợng “hiệu ứng cái roi da” (Bullwhip Effect), Jay Forrester2 và các cộng sự của mình xứng đáng đƣợc ghi nhận là những ngƣời đặt nền móng cho chuỗi cung ứng. Cho đến nay, chuỗi cung ứng không ngừng phát triển với nhiều khái niệm và hƣớng tiếp cận khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả trích dẫn một số khái niệm làm nền tảng củng cố cơ sở lý luận, bao gồm: - Theo Ganeshan và Harrison (1995), “Chuỗi cung ứng là mạng lưới các nhà xưởng và những lựa chọn phân phối nhằm thực hiện chức năng thu mua nguyên vật liệu, chuyển những vật liệu này thành bán thành phẩm và thành phẩm, phân phối những thành phẩm này đến khách hàng”.
[15] - Theo Lambert, Stock và Ellram (1998), “Chuỗi cung ứng là sự kết hợp giữa các công ty chịu trách nhiệm mang sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường”.13] - Theo Chopra và Moindl (2003), “Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các giai đoạn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến thỏa mãn yêu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và người phân phối mà còn có cả người vận chuyển, nhà xưởng, người bán lẻ và bản thân khách hàng…”. [11] - Theo GS Sourviron (2007), “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông qua các mối liên kết phía trên và phía dưới, trong các quá trình và hoạt động khác nhau, sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm, dịch vụ 2 Jay Forrester (1918) là nhà tiên phong trong các lĩnh vực kỹ thuật máy tính và hệ thống khoa học. Ông là giáo sƣ tại Sloan School of Management MIT.
Năm 1961, ông và các cộng sự của mình đã tiến hành nghiên cứu về dòng chảy của hàng hóa từ nhà cung cấp đến tay ngƣời tiêu dùng và mối quan hệ giữa các thành viên tham gia, từ đây ông phát hiệu ra một hiện tƣợng đặc biệt, mà sau này đƣợc biết đến với tên gọi là “hiệu ứng cái roi da” (Bullwhip Effect) vào năm 1982. 18 trong tay người tiêu dùng cuối cùng. Việc sắp xếp năng lực của các thành viên trong chuỗi cung ứng ở phía trên hay phía dưới nhằm mục đích tạo ra giá trị lớn hơn cho người sử dụng, với chi phí thấp hơn cho toàn bộ chuỗi cung ứng”. Trên cơ sở nghiên cứu những khái niệm đƣợc trích dẫn, về cơ bản chuỗi cung ứng là chuỗi liên kết 05 dộng năng chính, đó là: sản xuất, hàng hóa lưu kho, địa điểm, vận tải và thông tin.
Nó bao gồm các hoạt động của các tác nhân tham gia trong chuỗi từ cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho đến sản xuất thành sản phẩm đƣợc phân phối đến tay khách hàng hay ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Nói cách khác, chuỗi cung ứng tạo ra giá trị cho khách hàng hay ngƣời tiêu dùng cuối cùng thông qua việc liên kết, kiểm soát các hoạt động và các mối quan hệ giữa những tác nhân tham gia trong chuỗi.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng (SCM - Supply Chain Management) Dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu về chuỗi cung ứng đã đề cập, để hoạt động trong chuỗi diễn ra nhịp nhàng và hiệu quả, hoạt động quản trị chuỗi cung ứng rất cần thiết cho bất kỳ công đoạn nào trong chuỗi.14] Theo Stoner và Robbins: “Quản trị là tiến trình bao gồm việc hoạch định, tổ chức, quản trị con ngƣời và kiểm tra các hoạt động trong một đơn vị một cách có hệ thống nhằm hoàn thành mục tiêu của đơn vị đó”. Quản trị (management) là những hoạt động không thể thiếu trong mọi doanh nghiệp, tổ chức. Quản trị đƣợc thực hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động, mọi bộ phận của tổ chức, trong đó có hoạt động cung ứng.14] Quản trị chuỗi cung ứng là việc phối hợp các hoạt động từ tìm kiếm nguyên liệu thô, cấu thành nên sản phẩm/ dịch vụ đến việc sản xuất ra sản phẩm và phân phối đến tay khách hàng/ người tiêu dùng cuối cùng.
Trong đó các nhà quản trị không chỉ đảm nhiệm vai trò hoạch định, tổ chức cung ứng các yếu tố đầu vào nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động diễn ra nhanh chóng, nhịp nhàng và liên tục, các nhà quản trị còn phải kiểm soát chặt chẽ dây chuyền chuỗi cung ứng, mối quan 19 hệ giữa các tác nhân tham gia chuỗi, đồng thời xây dựng chiến lƣợc cung ứng đầu ra cho sản phẩm/ dịch vụ. Quản trị chuỗi cung ứng là những thao tác nhằm tác động đến hoạt động của chuỗi cung ứng để đạt đƣợc kết quả mong muốn. Cụ thể hơn, các tác giả Mentzer, Dewitt, Smith và Zachia (2001) cho rằng: “Quản trị chuỗi cung ứng là sự kết hợp mang tính chiến lược, có hệ thống các chức năng kinh doanh truyền thống đồng thời đề ra sách lược phối hợp các chức năng này trong một công ty cụ thể cũng như liên kết các doanh nghiệp trong một chuỗi cung ứng nhằm na6nh cao năng lực của từng công ty và toàn bộ chuỗi cung ứng trong dài hạn”.45] Nhƣ vậy, điều quan trọng trong bất kỳ giải pháp nào của quản trị chuỗi cung ứng chính là việc các doanh nghiệp cần xác định đƣợc năng lực doanh nghiệp và mối tƣơng quan giữa các bộ phận, tác nhân tham gia trong toàn bộ dây chuyển cung ứng, sản xuất. Quản trị chuỗi cung ứng là một giai đoạn phát triển của lĩnh vực Logistics (hậu cần) [7, tr.5] Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP - Economic and Social Comission for Asia and the Pacific), logistics đƣợc chia làm 03 giai đoạn phát triển: - Giai đoạn 1: Phân phối (Logistics đầu ra).
Đó là quản lí các hoạt động liên quan, đảm bảo quy trình phân phối sản phẩm/ dịch vụ nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả. Bao gồm các hoạt động chính: vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lí tồn kho, bao bì, đóng gói sản phẩm… - Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics. Để tăng hiệu quả quản lí hoạt động, và tiết kiệm chi phí. Từ đầu những năm 80, 90, Logistics đƣợc phát triển ở giai đoạn mới đƣợc gọi là hệ thống logistics, ở giai đoạn này các doanh nghiệp tập trung quản lí kết hợp cung ứng vật tƣ đầu vào và đảm bảo quy trình phân phối sản phẩm ở đầu ra.
- Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền chuỗi cung ứng (SCM). Đây là khái niệm mang tính chiến lƣợc về quản trị chuỗi, quản trị các tác nhân tham gia trong chuỗi, các mối quan hệ giữa các tác nhân đó từ nhà cung cấp nguyên vật liệu thô (đầu vào) - đến ngƣời sản xuất - khách hàng hoặc ngƣời tiêu dùng sản phẩm/ dịch vụ cuối cùng và các bên liên quan (dịch vụ vận chuyển, kho bãi…) 20 Cụ thể hơn, mối quan hệ giữa quản trị chuỗi cung ứng (SCM) và Logistics (hậu cần) đƣợc thể hiện qua bảng 1.1 dƣới đây: Bảng 1.1: Mối quan hệ giữa quản trị chuỗi cung ứng (SCM) và Logistics HẬU CẦN (LOGISTICS) QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG (SCM) - Logistics nhấn mạnh tính tối - Quản trị chuỗi cung ứng nói đến Khái niệm ƣu của quá trình. quá trình, đến các mối liên kết. - Liên quan đến các hoạt động - Liên quan đến các hoạt động xảy xảy ra trong phạm vi của một ra trong phạm vi bên trong và bên tổ chức riêng lẻ, một doanh ngoài tổ chức, doanh nghiệp.
Đó Phạm vi nghiệp. là sự liên kết hoạt động giữa các doanh nghiệp để tiến hành sản xuất và phân phối sản phẩm/ dịch vụ đến khách hàng. - Tối ƣu hóa dịch vụ khách - Giảm chi phí hoạt động, thông hàng, thông qua tối thiểu hóa qua việc quản trị dòng dịch Mục tiêu chi phí tồn kho, lập kế hoạch chuyển của nguyên vật liệu từ nhà vận chuyển… sản xuất đến thành phẩm tới tay khách hàng. - Tập trung vào các hoạt động - Tất cả các vấn đề của hậu cần, chính: thu mua, phân phối, bảo nhƣng thêm vào các hoạt động Chức năng quản.
khác nhƣ: tiếp thị, phát triển sản phẩm, dịch vụ khách hàng… 21 - Là một phần trong hoạt động - Là các hoạt động xuyên suốt quản trị chuỗi cung ứng. trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn: Nguyễn Kim Anh (2006) - Quản lý chuỗi cung ứng Nhƣ vậy, có thể hiểu một cách khái quát về quản trị chuỗi cung ứng là quản trị mối quan hệ giữa các tác nhân tham gia vào hoạt động của chuỗi. Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả sẽ tập trung xem xét, phân tích các tác nhân chính trong mô hình tham chiếu hoạt động chuỗi cung ứng (SCOR - Supply Chain Operations Reference): Hoạch định, tìm kiếm nguồn hàng, sản xuất, phân phối.2 Vai trò của chuỗi cung ứng Một chuỗi cung ứng thành công đều mang những tính chất đặc thù, nhƣng dù có rất nhiều điểm khác biệt, các chuỗi cung ứng vẫn có những đặc điểm chung và giữ vai trò nhất định.