CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan về nội dung và vai trò thu hút vốn FDI 1. Tổng quan về nội dung và bản chất thu hút vốn FDI a) Công trình nước ngoài Hầu hết các nghiên cứu thừa nhận sự cần thiết của vốn đầu tư nước ngoài đối với quốc gia tiếp nhận bao gồm vốn, bí quyết công nghệ, kinh nghiệm quản lý, marketing, mạng lưới sản xuất toàn cầu…; và là một động lực quan trọng tạo điều kiện cho các quốc gia tiếp nhận phát triển và tăng trưởng kinh tế (Lall, 2000; OECD, 2002). Có cùng quan điểm, OECD (2002) chỉ ra những lợi ích của nguồn vốn FDI và gợi ý việc chuyển giao công nghệ từ các dự án FDI được thực hiện qua bốn kênh: (i) chuyển giao theo chiều dọc với nhà cung cấp ở nước sở tại; (ii) chuyển giao theo chiều ngang với các đối thủ cạnh tranh hoặc các công ty thuộc ngành phụ trợ; (iii) di chuyển các lao động có tay nghề cao; (iv) quốc tế hóa hoạt động R&D.
Về động cơ của FDI, World Bank (2011), Rajan (2004) và nhiều nghiên cứu khác cho thấy có một xu thế chạy đua để thu hút FDI trên toàn thế giới, tuy nhiên các lý do thu hút FDI vào từng quốc gia không giống nhau [79]. Các nghiên cứu cũng đã tổng kết lại một số lý do hấp dẫn FDI chủ yếu bao gồm: (i) tìm kiếm nguồn lực bao gồm cả nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực con người; (ii) tìm kiếm thị trường; (iii) tìm kiếm hiệu quả đầu tư bằng cách giảm n 11 chi phí sản xuất, chi phí lao động; (iv) tìm kiếm tài sản chiến lược ở quốc gia tiếp nhận ví dụ công nghệ mới, thương hiệu, các kênh phân phối. Theo đó, các nghiên cứu gợi ý rằng các quốc gia cần phải dựa trên tiềm lực và lợi thế riêng của mình, để có chính sách thu hút FDI cho phù hợp và hiệu quả. Về hệ thống chính sách thu hút FDI, các chính sách có thể được phân chia làm ba cấp độ: (i) chính sách thu hút FDI; (ii) chính sách nâng cấp FDI; (iii) chính sách tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước [58], [59], [61].
Trong đó, chính sách thu hút FDI được hình thành bằng các ưu đãi về thuế, đất đai, cơ chế thuận lợi trong việc chu chuyển vốn, xuất nhập khẩu, kinh doanh trên thị trường trong nước và các bảo đảm bằng luật về quyền sở hữu vốn và tài sản, sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư. Chính sách nâng cấp FDI được hình thành theo các định hướng ưu tiên thu hút FDI theo chiến lược phát triển của quốc gia. Trong một số trường hợp, có nước còn áp dụng hình thức trợ cấp của Chính phủ cho nhà đầu tư để họ thực hiện dự án có quy mô lớn, tác động lan tỏa rộng, thuộc danh mục ưu tiên cao nhất. Chính sách khuyến khích các mối liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước được hình thành như là một phần trong chính sách công nghiệp, dịch vụ của từng quốc gia, nhằm làm cho các doanh nghiệp trong nước được hưởng lợi từ FDI nhờ vào mối quan hệ hợp tác và phân công về công nghệ và thị trường tiêu thụ với các MNCs.
Chính sách này cũng khuyến khích TNC quốc tế hợp tác với các cơ sở đào tạo (nhất là bậc đại học và dạy nghề trình độ cao), tổ chức nghiên cứu khoa học trong nước để nâng cao hơn nữa trình độ và năng lực của các cơ sở, tổ chức đó. Ở hầu hết các quốc gia đang phát triển, chính sách thu hút FDI được ưu tiên hàng đầu, trong khi các quốc gia phát triển theo đuổi tuơng đối đồng đều các cấp độ chính sách nói trên. Các công trình nghiên cứu trong nước cách tiếp cận hệ thống chính sách FDI theo ba cấp độ như phân tích khá ít gặp. Về hiệu quả của các chính sách thu hút FDI, các nghiên cứu cho thấy rằng chính sách FDI hiệu quả phụ thuộc vào đặc thù riêng của từng quốc gia.
Nghiên cứu của Bellak và cộng sự (2005) phân tích dữ liệu theo ngành của hai n 12 nhóm nước là Mỹ và 6 nước EU (US + EU6) và nhóm 4 nước Tây Âu (CEEC 4); kết luận cho thấy ở các nước CEEC 4 chi tiêu chính phủ cho hoạt động R&D sẽ tạo ra sự gia tăng quan trọng trong FDI; trong khi ở các nước US+EU6 sự cải thiện trong chi phí lao động đơn vị (như cải thiện năng suất lao động) và chính sách thuế sẽ thu hút nhiều FDI hơn. Nghiên cứu cũng hệ thống hóa các chi phí này trong 32 nước đang phát triển, từ đó chỉ ra mối liên hệ ngược chiều giữa chi phí quản lý và FDI đến tỷ lệ tăng trưởng GDP của các quốc gia sau khi đã kiểm soát các yếu tố khác. Để đánh giá hệ thống chính sách FDI, nghiên cứu của SESRIC (2014) gợi ý sử dụng chỉ số FDI tiềm năng và chỉ số FDI thực hiện được xây dựng và phát triển bởi UNCTAD (2002). Về mức độ thu hút vốn FDI (còn gọi là ngưỡng FDI), Theo Raheem & Oyinlola (2013), mức ngưỡng tối thiểu đối với năng lực quản lý nhà nước để FDI có tác động tích cực đối với nền kinh tế là -1.2 (chỉ số đánh giá năng lực quản lý nhà nước được đo lường từ giá trị -2.5, Kaufmann và cộng sự, 2010), Shu-Chen Chang (2015) xác định mức ngưỡng ổn định chính trị là 0.845 và ngưỡng thể chế pháp luật là 1.228 để đảm bảo FDI không có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, khi Ford, Sen & Wei (2010) nghiên cứu trường hợp của Trung Quốc trong giai đoạn 1970 – 2005, kết luận cho thấy cho dù trình độ quản lý nhà nước tốt ở mức nào thì FDI cũng không có ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế. Trong hầu hết các nghiên cứu về tác động ngưỡng lên mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng, biến ngưỡng thường được sử dụng là trình độ lao động, năng lực quản lý nhà nước, độ mở thương mại (-0,813 trong nghiên cứu của Jyun-Yi W.,2008), CPI, khả năng hấp thụ của nền kinh tế (0,07 – 1,2 trong nghiên cứu của Girma, 2005). Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu tìm n 13 hiểu về ngưỡng quy mô FDI trong mối quan hệ này. Tác giả chỉ tìm thấy nghiên cứu của Demekas D.
và cộng sự (2005) phân tích trên mẫu 15 nước Đông – Nam Âu trong giai đoạn 1995 – 2003 đề xuất mức ngưỡng quy mô vốn FDI không tư nhân hóa (non-privatization FDI) trên GDP là 12,1%. Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng bản chất của FDI sẽ thay đổi khi nước chủ nhà thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài. Cũng theo nghiên cứu, làn sóng đầu tư nước ngoài ban đầu chủ yếu bị hấp dẫn bởi quy mô thị trường, dễ dàng tiếp cận thị trường, chi phí nhân công rẻ, nhưng một khi vốn đầu tư FDI đến “điểm tới hạn” (hay khi vượt qua giá trị ngưỡng), một loại nhà đầu tư mới sẽ xuất hiện và bị thu hút bởi chất lượng môi trường kinh doanh, sự thịnh vượng của quốc gia và mức độ phát triển của thể chế luật pháp. Về mô hình xác định ngưỡng, thống kê cho thấy các mô hình được sử dụng để xác định giá trị ngưỡng tương đối đa dạng, trong đó nổi bật là mô hình hồi quy ngưỡng (Threshold Regression), mô hình tự hồi quy ngưỡng AutoRegression – TAR) đối với dữ liệu chuỗi thời gian, mô hình hồi quy ngưỡng cho dữ liệu mảng (Panel Threshold Regression - PTR).
Trong đó, mô hình TAR và mô hình PTR ưu việt hơn vì cho phép ước lượng được nhiều hơn một giá trị ngưỡng trong mô hình (nếu có), trong khi mô hình hồi quy ngưỡng chỉ cho phép ước lượng được một giá trị ngưỡng duy nhất. Mô hình TAR được giới thiệu bởi Tong (1983) cho dữ liệu chuỗi thời gian, sau đó được thừa kế và phát triển bởi Hansen (1996, 1999, 2000) thành mô hình hồi quy ngưỡng cho dữ liệu mảng (Panel Threshold Regression – PTR). Mô hình TAR và PTR ngày càng khẳng định được tầm quan trọng và ý nghĩa của mình trên cả khía cạnh lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm. Các mô hình này cho phép kiểm định sự tồn tại của mối quan hệ phi tuyến tính và xác định được số ngưỡng của mô hình.
Bên cạnh đó, kỹ thuật lấy mẫu có hoàn lại Bootstrap2 cho phép xác định giá trị ngưỡng và kiểm định sự tồn tại của hiệu ngưỡng (Hansen, 1996, 1997, 1999, 2000). n 14 b) Công trình trong nước Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Trần Văn Lợi (2008) trong nghiên cứu về “Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020”. Luận án tiến sĩ kinh tế.
Khoa Kinh tế - Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả nghiên cứu tác động tích cực, tiêu cực của FDI đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển và một số giải pháp để khắc phục. Ngô Thị Hải Xuân (2011) (Chủ nhiệm đề tài NCKH cấp Bộ) “Những giải pháp chiến lược khắc phục tình trạng mất cân đối trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”. Đề tài NCKH cấp Bộ.
Báo cáo vào tháng 11 năm 2011. Nhóm tác giả đã đề cập những hạn chế và mất cân đối trong hoạt động FDI ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp khắc phục. Nguyễn Xuân Trung trong nghiên cứu về “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” [35]. Thông qua việc phân tích một số vấn đề về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam liên quan đến: cân đối vĩ mô; bảo vệ môi trường và chuyển giao công nghệ; Sự tác động lan tỏa, liên kết giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước…, tác giả đã làm sáng tỏ một số mặt tích cực và tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thu hút và sử dụng FDI ở Việt Nam. Cao Thị Hồng Vinh (2013) nghiên cứu tác động của việc gia nhập WTO đến dòng vốn FDI vào Việt Nam [46]. Áp dụng phương pháp FE, RE với dữ liệu bảng giai đoạn 1995-2011. Tác giả cho thấy tác động rõ rệt của việc tham gia WTO tới dòng vốn FDI vào Việt Nam.