CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC 1. Đầu tư và vốn đầu tư 1. Đầu tư Thuật ngữ đầu tư được hiểu và trình bày trong sách báo kinh tế ở nước ta chưa đạt tới sự nhất quán. Đầu tư là hành động “bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mưa sắm thiết bị mới, hoặc thực hiện việc hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng” [39,176].
Định nghĩa này nhấn mạnh vào đầu tư phát triển, vào hình thái biểu hiện và động lực của đầu tư, nhưng không làm rõ bản chất của đầu tư cũng như chưa phản ánh được đầy đủ nội dung của đầu tư. Hay “Đầu tư là hoạt động kinh tế gắn với việc sử dụng vốn dài hạn nhằm mục đích sinh lời” [21,25]. Định nghĩa này nhấn mạnh tính dài hạn và tính sinh lời của hoạt động đầu tư, nhưng chưa làm rõ hình thái của hoạt động đầu tư. “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành các loại đầu tư [31].
Về mặt khoa học, các định nghĩa này quá chung chung và trùng lặp khi sử dụng thuật ngữ “hoạt động đầu tư” để định nghĩa đầu tư. Trong lịch sử, đã có nhiều nhà kinh tế học giành nhiều công sức nghiên cứu và đi đến những kết luận của mình về đầu tư. Sau đây xin tóm tắt ý kiến cơ bản của một số nhà kinh tế học tiêu biểu bàn về khái niệm đầu tư: Nhà kinh tế học John M.Keynes cho rằng đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản chính để thu lợi nhuận. Đầu tư ở đây còn bị giới hạn trong việc mua sắm một tài sản tại sở giao dịch chứng khoán.
Có nói đến đầu tư mua tài sản tài chính, song John M. Keynes chủ yếu tập trung vào khái niệm đầu tư tạo thêm tài sản vật chất mới (như máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) và để thu về một khoản lợi nhuận trong tương lai: "Khi một người mua hay đầu tư một tài sản, người đó mua quyền để được thu một loạt các khoản lợi tức trong tương lai mà người đó hy vọng giành được qua việc bán sản phẩm do tài 6 Luan van sản cố định làm ra…” [17]. Như vậy, theo John M. Keynes nói đến đầu tư có nghĩa là một người nào đó bỏ ra một lượng tiền để mua tài sản với mục đích trong tương lai chính số tài sản (vật chất) đó sẽ sinh ra một khoản tiền lớn hơn so với số tiền mà họ đã bỏ ra ban đầu.
Gordon thì cho rằng đầu tư là đưa thêm sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sinh ra thu nhập của quốc gia hay thay thế các tài sản vật chất cũ đã hao mòn. Khái niệm của ông nêu ra đã xem xét đầu tư trên giác độ kết quả của hoạt động đầu tư đem lại cho nền kinh tế trong quá trình tái sản xuất. Nghĩa là đầu tư nhằm mục đích duy trì năng lực của nền kinh tế qua việc thay thế tài sản đã hao mòn. Quan điểm của Gordon đã tiếp cận khái niệm đầu tư trên phạm vi nền KT-XH.
Nhà kinh tế học P.A Samuelson và Wiliam D. Nordhaus quan niệm “đầu tư có ý nghĩa là sự bổ sung vào tư liệu sản xuất”. Đầu tư chỉ thực sự xuất hiện khi tạo ra vốn thực tế” [23,111] và cho rằng đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho. Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nhân lực, nghiên cứu, phát minh,… Theo ông trong thuật ngữ tài chính, đầu tư mang một nghĩa hoàn toàn khác, dùng để chỉ mua một loại chứng khoán…, đó không phải là đầu tư thực sự của nền kinh tế.
Trên góc độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu là "hoạt động kinh tế từ bỏ tiêu dùng hiện nay với tầm nhìn để tăng sản lượng cho tương lai", với niềm tin, kỳ vọng thu nhập do đầu tư đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tư [23].A Samuelson nêu ra trong các cách tiếp cận về đầu tư đã cho thấy đầu tư hy sinh tiêu dùng hôm nay để có thu nhập cao hơn trong tương lai và đó là quá trình chứa đựng những rủi ro. Điều đó không chỉ nói lên kết quả của đầu tư mà còn chỉ rõ nguồn gốc của đầu tư trên góc độ cá nhân cũng như trên phạm vi nền kinh tế, thể hiện các mối quan hệ thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư. Đồng thời, ông cũng xác định các dạng chính của đầu tư, trong đó đã bao quát được các hoạt động đầu tư cho khoa học, kỹ thuật và phát triển con người.A 7 Luan van Samuelson đã đưa ra khái niệm đầu tư đầy đủ hơn so với John M. Đầu tư là dùng vốn để có được nhiều tiền hơn, hoặc thông qua những phương tiện tạo ra thu nhập (lãi, lợi nhuận) hoặc thông qua những hình thức kinh doanh mạo hiểm có nhiều rủi ro hơn để kiếm lãi vốn [38].
Quan niệm này đã tiếp cận khái niệm đầu tư dưới góc độ vốn, dùng vốn để đem lại vốn nhiều hơn, song chưa phản ánh kết quả đầu tư về hình thái vật chất là tăng thêm năng lực của nền kinh tế. Qua các khái niệm trên, về mặt lý luận chúng ta có thể phân biệt một số loại đầu tư như sau: Đầu tư tài chính là loại đầu tư, trong đó người ta bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước hoặc lãi suất tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư thương mại là loại đầu tư, trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi bán. Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động là loại đầu tư, trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và tạo ra sản phẩm mới cho nền kinh tế, làm tăng năng lực sản xuất, kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân.
Hay đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển. Ngoài ra, căn cứ vào tính chất đầu tư mà người ta chia ra đầu tư ra làm 2 loại, đó là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư [31]. Nhà đầu tư có thể là Chính phủ thông qua các kênh khác nhau để đầu tư cho xã hội, điều này thể hiện chi tiêu của Chính phủ thông qua đầu tư các công trình, 8 Luan van chính sách xã hội.
Ngoài ra, người đầu tư có thể là tư nhân, tập thể… kể cả các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà các chủ thể tham gia thể hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong quá trình đầu tư. Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư [31]. Đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà trong đó người bỏ vốn ra và người sử dụng vốn không cùng một chủ thể.
Đầu tư gián tiếp thông thường qua kênh tín dụng hay kênh đầu tư trên thị trường chứng khoán. Giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp có quan hệ chặt chẽ trong quá trình thực hiện đầu tư. Tóm lại tùy thuộc mục đích, góc độ nghiên cứu khác nhau đã hình thành nhiều khái niệm về đầu tư và các loại đầu tư khác nhau. Theo tôi trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, đầu tư được hiểu là việc sử dụng một khoản tiền vào việc tạo ra hoặc tăng cường cơ sở vật chất cho nền kinh tế nhằm khai thác một cách có hiệu quả các nguồn lực và thu được các kết quả trong tương lai lớn hơn khoản tiền đã bỏ ra để đạt các kết quả đó.
Từ các phân tích trên cho thấy đầu tư có những đặc điểm sau: Thứ nhất, hoạt động đầu tư thường sử dụng nhiều nguồn lực. Thứ hai, thời gian kể từ khi bắt đầu thực hiện đầu tư cho đến khi mang lại kết quả của công cuộc đầu tư phát huy tác dụng phải kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định (nhiều năm, tháng). Thứ ba, chi phí cần thiết cho một đầu tư lớn và phải nằm ứ đọng trong suốt quá trình đầu tư. Mất đi cơ hội sử dụng các nguồn lực đó vào những mục đích khác.
Thứ tư, hoạt động đầu tư tạo ra hoặc tăng cường cơ sở vật chất cho nền kinh tế nhằm khai thác một cách có hiệu quả các nguồn lực. Thứ năm, mục đích của đầu tư là mang lại lợi ích trong tương lai, kết quả đầu tư mang lại trong tương lai lớn hơn so với chi phí bỏ ra. Vốn đầu tư Vốn đầu tư là sự biểu hiện bằng tiền các khoản mục chi phí gắn liền với nội dung của các hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, cần thiết phải tìm hiểu cặn kẽ bản chất của vốn đầu tư để từ đó đưa ra một khái niệm đầy đủ hơn về vốn đầu tư.
Về bản chất của vốn đầu tư: Muốn thực hiện đầu tư sản xuất, cần có các nguồn đầu tư vào như sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Khoản tiền cần có trang trải các chi phí ứng trước này là vốn đầu tư. Rõ ràng, vốn đầu tư phải lấy từ trong số của cải đã làm ra, sau khi trừ đi phần tiêu dùng.