Chương I: Lý luận chung về FDI và ngành Công nghiệp Dịch vụ Chương II: Thực trạng thu hút FDI của Nhật Bản vào ngành Công nghiệp Dịch vụ ở Việt Nam Chương III: Giải pháp thu hút FDI của Nhật Bản vào ngành Công nghiệp Dịch vụ Việt Nam Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của Cô Phan Thị Vân – giảng viên môn Đầu tư, khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội. Những sự chỉ bảo và nhận xét quý báu của cô là kim chỉ nam giúp tác giả có được hướng nghiên cứu, tiếp cận vấn đề hợp lý và hoàn thành tốt luận văn này. Ngoài ra, xin cảm ơn sự giúp đỡ của thầy Ogushi, giảng viên bộ môn tiếng Nhật Kinh tế, khoa tiếng Nhật, trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội, chú Phạm Văn Hiên, cán bộ Trung tâm thông tin phát triển Việt Nam, các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè đã có nhiều ý kiến đóng góp trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỊCH VỤ 1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) 1. Khái niệm FDI Có nhiều định nghĩa về FDI nhưng dù theo bất kỳ một cách hiểu nào đều có thể khẳng định FDI là một hình thức “đầu tư” – quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội. Đứng trên góc độ một quốc gia để xem xét 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế hoạt động đầu tư căn cứ vào sự hình thành nguồn vốn thì FDI là hoạt động được thể hiện trong sơ đồ ở trên1.
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF (International Monetary Fund), FDI (Foreign Direct Investment) là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác. Ở đây, đặc điểm vượt ra khỏi biên giới quốc gia và quyền sở hữu lâu dài được coi là trọng tâm của khái niệm. Như vậy FDI sẽ tạo thành một mối quan hệ lâu dài giữa một công ty chủ quản (người đầu tư trực tiếp) và một công ty phụ thuộc (doanh nghiệp FDI) đặt tại một quốc gia khác với quốc gia của công ty chủ quản. Công ty chủ quản không nhất thiết phải kiểm soát toàn bộ hoạt động của công ty phụ thuộc (trong trường hợp công ty chủ quản không chiếm đa số cổ phiếu của công ty phụ thuộc) và phần FDI chỉ tính trong phạm vi tỷ lệ sở hữu của công ty chủ quản đối với công ty phụ thuộc.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thì đưa ra khái niệm về doanh nghiệp FDI – một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết. Theo đó, điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty. Tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng sử dụng mức 10% làm mốc xác định quyền kiểm soát doanh nghiệp. Ví dụ như con số này ở Mỹ là 10% nhưng ở Pháp và Anh là 20% (1997).
Luật đầu tư 2005 của Việt Nam có đề cập đến các khái niệm như “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư ra nước ngoài” … nhưng không có khái niệm FDI. Từ đó, có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư 1 Giáo trình Đầu tư nước ngoài, Vũ Chí Lộc, NXB Giáo Dục, 1997. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Từ những khái niệm trên đây, có thể hiểu một cách khái quát về FDI là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và phản ánh lợi ích dài hạn về quyền kiểm soát của một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế (được gọi là chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài) trong một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài (được gọi là doanh nghiệp FDI).
Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài với hai đặc điểm cơ bản là: có sự dịch chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư. Các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài Dựa vào những tiêu chí khác nhau, có rất nhiều cách để phân loại FDI như: phân loại theo hình thức đầu tư, phân loại theo động cơ đầu tư, phân loại theo cách thức xâm nhập…Tuy nhiên, gắn liền với FDI Công nghiệp Dịch vụ thì người ta thường quan tâm tới cách phân loại theo cách thức xâm nhập. Có hai loại hình chính đó là2: - Đầu tư mới (Greenfield Investment) Nguồn FDI được sử dụng để xây dựng các doanh nghiệp mới hoặc phát triển thêm các doanh nghiệp sẵn có trong nước. Đây là phương thức các quốc gia nhận FDI thích nhất vì tạo được thêm công ăn việc làm cho người dân trong nước, nâng cao sản lượng, chuyển giao kỹ thuật cao cấp đồng thời tạo được mối liên hệ trao đổi với thị trường thế giới.
2 Ngoài ra còn có loại hình Brownfield Investment: Mua lại một doanh nghiệp nhưng không sử dụng đến các tài sản của doanh nghiệp đó. Bản chất chỉ là mua lại cái tên. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế Nhưng mặt yếu của đầu tư mới là có thể đe dọa sự tồn tại của ngành trong nước vì nhờ khả năng cạnh tranh cao hơn về kỹ thuật và hiệu quả kinh tế, đồng thời làm khô cạn tài nguyên trong nước. Ngoài ra một phần lợi nhuận quan trọng sẽ chảy ngược về công ty chủ đầu tư.
- Mua lại và sáp nhập (Mergers and Acquisitions) Đây là hình thức mà tài sản của một doanh nghiệp trong nước được chuyển giao cho một doanh nghiệp nước ngoài. Hình thức chuyển giao có thể là một sự sáp nhập (merge) giữa một công ty trong nước với một công ty nước ngoài để tạo thành một doanh nghiệp với một tư cách pháp nhân mới. Doanh nghiệp mới này bắt đầu có tính đa quốc gia. Trường hợp sáp nhập với công ty nước ngoài, phần FDI được tính là phần tài trợ mà công ty trong nước được nhận từ bộ phận công ty nước ngoài rót vào.
Một hình thức chuyển giao khác có thể là bán đứt công ty trong nước cho công ty nước ngoài. Trường hợp này, FDI được tính là những khoản đầu tư từ công ty mẹ qua cho công ty con trong nước. Đây là loại hình chủ yếu được các nhà đầu tư Công nghiệp dịch vụ ưa thích bởi ưu điểm thâm nhập thị trường nhanh và khả năng thành công cao. Ngoài ra, Luật đầu tư 2005 của Việt Nam cũng đưa ra các hình thức FDI được phép thực hiện tại Việt Nam như sau: - Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài.
- Thành lập tổ chức liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. - Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, BOT, BTO, BT. - Đầu tư phát triển kinh doanh. - Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
- Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. - Các hình thức đầu tư trực tiếp khác. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế Theo đó, FDI đã được phân loại bằng cách liệt kê các hoạt động được coi là đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà không có một tiêu chí cụ thể nào để phân loại. Cách phân loại này so với cách phân loại quốc tế ở trên tỏ ra không khoa học mà chỉ có tính chất hướng các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn cách thức tiến hành đầu tư vào Việt Nam.
Ngành Công nghiệp Dịch vụ 1. Khái niệm và đặc điểm ngành Công nghiệp Dịch vụ Nếu như ngày xưa, người ta nhắc đên Nông-Lâm-Ngư nghiệp và Công nghiệp như hai trụ cột chính của một nền kinh tế thì từ vài thập kỷ trở lại đây, khái niệm “Công nghiệp Dịch vụ” ngày càng được nhắc đến nhiều hơn. “Công nghiệp Dịch vụ” trong tiếng Anh là “Service Industry” được liên hiệp công nghiệp dịch vụ Hoa Kỳ CSI (Coalition of Service Industry) sử dụng để chỉ chung một nhóm các ngành cung cấp cho người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng là các “dịch vụ”3. Trong đó, cụm từ “dịch vụ” (service) chỉ một lĩnh vực rất rộng, bao gồm một loạt các hoạt động và sản phẩm vô hình.
Trong một khái niệm để phân biệt với hàng hóa hữu hình, dịch vụ được hiểu là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn ngay lập tức các nhu cầu của sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người. Lao động xã hội là lao động có mục đích, có phương pháp và bằng một công cụ nào đó của con người. Còn hình thái vật thể là cái hữu hình, cái mà con người có thể nhìn thấy bằng mắt, có thể sờ được bằng tay như một cái bàn gỗ, một cái ti vi…Dịch vụ không không là những thứ đó, và Công nghiệp Dịch vụ cũng không làm ra những thứ đó. Nhưng để làm ra được cái bàn gỗ, cái ti vi thì cần tới dịch vụ.
Đó là dịch vụ vận tải để vận chuyển gỗ 3 http://www.org/ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.