phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thu hút FDI theo định hƣớng phát triển bền vững trên địa bàn một tỉnh, thành phố. Chƣơng 2: Thực trạng thu hút FDI theo định hƣớng phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng. Chƣơng 3: Quan điểm, định hƣớng và một số giải pháp tăng cƣờng thu hút FDI theo định hƣớng phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT FDI THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN MỘT TỈNH, THÀNH PHỐ 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.
FDI Theo quỹ tiền tệ thế giới (International Moneytary Fund – IMF) định nghĩa đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là hoạt động đầu tƣ nhằm mang lại lợi ích lâu dài của một tổ chức/ doanh nghiệp ở một quốc gia khác (nƣớc nhận đầu tƣ – hosting country), mà không phải thị trƣờng quốc gia mà tổ chức/ doanh nghiệp đang hoạt động (nƣớc đi đầu tƣ – source country) với kỳ vọng quản trị hiệu quả doanh nghiệp một cách hiệu quả (IMF 1993: 235). Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Cooperation and development – OECD) cũng đƣa ra định nghĩa về FDI tƣơng tự nhƣ IMF. Tuy nhiên, OECD mở rộng đối tƣợng nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có thể là cá nhân hoặc tổ chức thuộc cơ quan chính phủ hoặc thuộc thành phần kinh tế tƣ nhân tại nƣớc ngoài. Ủy ban thƣơng mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD), trong Báo cáo đầu tƣ thế giới năm 1996 cũng đƣa ra quan điểm FDI là hoạt động đầu tƣ lâu dài của một pháp nhân đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác.
Đó là sự đầu tƣ của một nhà đầu tƣ hoặc công ty mẹ đối với một doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh của doanh nghiệp. Theo Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1996 và trong lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài ngày 09/6/2000 quy định tại khoản 1 Điều 2: “FDI là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật này”, trong đó nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc hiểu là tổ chức kinh tế, cá nhân nƣớc ngoài đầu tƣ vào Việt Nam”. Có thể thấy, có nhiều quan điểm khác nhau về FDI, tuy nhiên có có thể nhìn nhận FDI là hoạt động của một nhà đầu tƣ ở nƣớc ngoài theo hình thức vốn đầu tƣ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc tài sản vào một thị trƣờng khác để xây dựng và phát triển hoạt động kinh doanh ở thị trƣờng đó với mục tiêu tối đa lợi nhuận. Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị…), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…).
FDI có các vai trò sau đây: - Là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tƣ phát triển kinh tế xã hội, là một động lực thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế; - FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quốc gia cũng nhƣ địa phƣơng, tạo đà phát triển một số ngành, sản phẩm chủ lực của địa phƣơng thông qua khả năng đa dạng hóa sản phẩm, gia tăng mức độ đầu tƣ, tính phức tạp của sản phẩm, từ đó giúp tăng trƣởng bền vững, hiện đại hóa kinh tế. - FDI giữ vai trò quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa, góp phần gia tăng và thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, từng bƣớc đƣa nƣớc ta thoát khỏi tình trạng nhập siêu và chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của nhiều sản phẩm. - Thực hiện chuyển giao công nghệ ở một số ngành, lĩnh vực và có tác động lan tỏa công nghệ nhất định tới khu vực doanh nghiệp trong nƣớc. - Liên kết giữa khu vực đầu tƣ nƣớc ngoài với khu vực trong nƣớc, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ.
- Góp phần tăng thu ngân sách quốc gia. - Đóng góp cho mục tiêu phát triển xã hội thông qua tạo nhiều cơ hội việc làm, thay đổi cơ cấu việc làm, phát triển nguồn nhân lực và cải thiện năng suất lao động của toàn nền kinh tế. Phát triển bền vững Liên hợp quốc (1987) định nghĩa phát triển bền vững là sự phát triển một cách liên tục nhằm theo sát và đáp ứng đƣợc các yêu cầu phát triển của hiện tại, tuy nhiên không gây ảnh hƣởng tiêu cực đối với sự phát triển của thế hệ mai sau. Hội nghị Thƣợng đỉnh Trái đất về Môi trƣờng và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thƣợng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Nam Phi) năm 2002 đã xác định phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế - phát triển xã hội và bảo vệ môi trƣờng.
Năm 1998, trong báo cáo “Tƣơng lai của chúng ta” (Our common future) của Hội đồng Thế giới về Môi trƣờng và Phát triển (WCED) của Liên Hợp Quốc, phát triển bền vững đƣợc định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng đƣợc những yêu cầu của hiện tại, nhƣng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Thực chất PTBV mong muốn của tất cả mọi quốc gia, dân tộc và loài ngƣời không phân biệt giàu nghèo hay trình độ xã hội. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đƣa ra định nghĩa cụ thể hơn, đó là: Phát triển bền vững là một hình thức tƣ duy phát triển hiện đại, liên kết quá trình sản xuất kinh doanh với việc sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên và không ngừng nâng cao chất lƣợng môi trƣờng. PTBV cần thỏa mãn nhu cầu phát triển của giai đoạn phát triển hiện tại nhƣng không làm tổn hại đến sinh kế và nhu cầu của các thế hệ trong tƣơng lai.
Với quan điểm này, phát triển bền vững đóng vai trò rang buộc về sự phát triển ở hiện tại với tƣơng lai, thông qua việc phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm nhƣng song song với đó là các hành động, nỗ lực nhằm bảo vệ môi trƣờng và đảm bảo sự phát triển chung của xã hội. Tuy vậy, định nghĩa này vẫn chƣa đề cập đƣợc bản chất của các quan hệ giữa các yếu tố của PTBV và chƣa đề cập đến các nhóm nhân tố cụ thể mà quá trình PTBV phải đáp ứng cùng một lúc, đó là nhóm nhân tố tạo ra tăng trƣởng kinh tế, nhóm nhân tố tác động thay đổi xã hội, bao gồm thay đổi cả văn hoá và nhóm nhân tố tác động làm thay đổi tài nguyên, môi trƣờng tự nhiên. Ở Việt Nam, vấn đề phát triển bền vững đã và đang đƣợc Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm thể hiện ở Quyết định số 432/QĐ-TTg, ngày 12/4/2012 của Thủ tƣớng Chính Phủ phê duyệt Chiến lƣợc phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011- 2020. Mục tiêu của chiến lƣợc là Tăng trƣởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến độ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trƣờng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Theo đó, các tiêu chí đo lƣờng và đánh giá khả năng phát triển bền vững của 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020: Các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu về kinh tế, các chỉ tiêu về xã hội, các chỉ tiêu về tài nguyên và môi trƣờng. Trong các định hƣớng ƣu tiên phát triển bền vững, sản xuất và tiêu dùng xanh là một trong những nội dung quan trọng. Trong đó, chiến lƣợc nhấn mạnh áp dụng mô hình sản xuất tinh gọn, sản xuất xanh nhằm hƣớng tới việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, giảm tải lƣợng chất thải, khí thải và tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên trong tƣơng lai. Kế thừa và phát triển các khái niệm nêu trên, có thể hiểu phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng đƣợc những yêu cầu của hiện tại, nhƣng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu cũng nhƣ điều kiện sống của các thế hệ mai sau trên cơ sở phát triển hài hoà cả về kinh tế, xã hội và môi trƣờng ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời.
Ở đây đã nhấn mạnh đến sự phát triển hài hòa giữa 3 trụ cột là thành phần của PTBV là: Kinh tế - Xã hội - Môi trƣờng. Phát triển bền vững về kinh tế: Bền vững về khía cạnh kinh tế đƣợc thể hiện ở khả năng sản xuất và kinh doanh sản phẩm dịch vụ một cách liên tục, khả năng thích ứng với sự thay đổi liên tục của môi trƣờng kinh doanh và tuân thủ đúng các quy định. Tránh đi chệch hƣớng phát triển, phá vỡ quy hoạch và làm mất cân đối giữa các khu vực kinh tế. Phát triển bền vững về xã hội: Bền vững về mặt xã hội cần đạt đƣợc sự công bằng trong xã hội, giảm phân biệt giàu nghèo, hƣớng tới trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh.
Phát triển bền vững về môi trƣờng: Phát triển bền vững về môi trƣờng cần phải hƣớng tới gìn giữ và duy trì một hệ thống nền tản nguồn lực một cách bình ổn. Khai thác tài nguyên đi cùng với tái sinh tài nguyên, sử dụng tài nguyên kết hợp với bảo vệ tài nguyên, xả thải phải có phƣơng thức xử lý chất thải, sử dụng nguồn tài nguyên một cách khoa học, tránh lãng phí. Thu hút FDI theo định hướng phát triển bền vững của địa phương Thu hút FDI ngày càng đƣợc coi trọng đối với mục tiêu đổi mới và phát triển kinh tế địa phƣơng. Trên thực tế, nguồn vốn FDI không tự nhiên chảy vào địa phƣơng mà nó đƣợc quyết định bởi sự hấp dẫn của từng địa phƣơng nhƣ: điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế, điều kiện chính trị - xã hội, tài nguyên thiên 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên, thể chế, chất luộng nguồn nhân lực, chính sách thu hút đầu tƣ, môi trƣờng kinh doanh và rất nhiều yếu tố khác.