Tổng quan nghiên cứu

Vấn đề giải quyết việc làm cho lao động trẻ khu vực nông thôn giữ vai trò then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội bền vững. Theo số liệu thống kê tại địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013–2015, địa phương có quy mô dân số đạt 181.432 người với tổng lực lượng lao động là 79.434 người (chiếm 43,78% dân số). Trong đó, lực lượng thanh niên độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi đạt 31.006 người, chiếm tỷ trọng 39,03% tổng nguồn nhân lực toàn huyện. Mặc dù là lực lượng xung kích trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thanh niên nông thôn Can Lộc đang đối mặt với nhiều rào cản lớn về việc làm khi số lượng thanh niên hoàn toàn không có việc làm là 1.317 người (chiếm tỷ lệ 4,24%). Bên cạnh đó, tình trạng thiếu việc làm theo mùa vụ diễn ra phổ biến khiến khoảng 20% đến 30% lao động trẻ phải rời quê hương tìm kiếm sinh kế tự phát tại các đô thị lớn với công việc bấp bênh và thu nhập thấp.

Nghiên cứu được triển khai nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng các giải pháp giải quyết việc làm giai đoạn 2013–2015, nhận diện các yếu tố tác động và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi đến năm 2020. Phạm vi không gian tập trung tại huyện Can Lộc, sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013–2015 và dữ liệu điều tra sơ cấp thực địa năm 2016. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học giúp địa phương hoạch định chính sách, phấn đấu kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên xuống dưới 3,0%, nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề và tối ưu hóa việc phân bổ nguồn nhân lực trẻ trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết kinh tế học lao động hiện đại về tương quan cung – cầu trên thị trường lao động và lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) của Gary Becker nhằm luận giải vai trò của giáo dục, đào tạo nghề đối với năng suất và cơ hội việc làm. Nghiên cứu chuẩn hóa hệ thống 5 khái niệm nòng cốt: Lao động (người từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động), Việc làm (mọi hoạt động lao động tạo thu nhập không bị pháp luật cấm theo Bộ luật Lao động), Thất nghiệp (tình trạng người trong độ tuổi lao động có nhu cầu và sẵn sàng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm), Thanh niên (công dân từ đủ 16 đến 30 tuổi theo Luật Thanh niên), và Thanh niên nông thôn (lao động trẻ trực tiếp sinh sống và tham gia sản xuất tại địa bàn nông thôn).

Khung phân tích đặt thanh niên vào vị trí trung tâm của mối quan hệ ba bên: Nhà nước (ban hành cơ chế, Đề án 103, Quyết định 1956/QĐ-TTg, Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm theo Nghị quyết 120/HĐBT); Cơ sở đào tạo - Doanh nghiệp (tạo cầu lao động và chuyển giao kỹ năng); và Bản thân thanh niên (chủ thể cung lao động, năng lực tự lập nghiệp). Mô hình nhấn mạnh rằng việc làm bền vững chỉ đạt được khi có sự ăn khớp giữa trình độ chuyên môn kỹ thuật với nhu cầu thực tế của thị trường lao động địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Can Lộc giai đoạn 2013–2015, báo cáo tổng kết của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Huyện đoàn Can Lộc và Tổng cục Thống kê. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa trong năm 2016 bằng phiếu hỏi cấu trúc và bán cấu trúc.

Cỡ mẫu điều tra gồm 150 thanh niên nông thôn được phân bổ đồng đều tại 3 xã đại diện: Xuân Lộc (vùng đồng bằng thuần nông), Thượng Lộc (vùng đồi gò phát triển kinh tế vườn đồi, trang trại) và Phú Lộc (khu vực cận đô thị, phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ). Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các nhóm đối tượng: nam và nữ, lao động đang làm việc trong 3 nhóm ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ) và lao động đang thất nghiệp hoặc thiếu việc làm. Ngoài ra, tác giả thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ quản lý huyện, cán bộ Huyện đoàn, lãnh đạo Trung tâm Dạy nghề - Hướng nghiệp và đại diện các doanh nghiệp tiếp nhận lao động. Phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm (%), phân tích tổng hợp chỉ tiêu kinh tế được sử dụng nhằm lượng hóa chính xác các biến động lao động và đánh giá hiệu quả thực thi chính sách việc làm trên địa bàn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô lực lượng thanh niên Can Lộc rất dồi dào với 31.006 người, chiếm 39,03% tổng lao động toàn huyện, nhưng chất lượng tay nghề chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa. Tỷ lệ lao động thanh niên nông thôn chưa qua đào tạo nghề chiếm trên 75%. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp hoàn toàn ghi nhận ở mức 4,24% (1.317 người), trong khi tỷ lệ thiếu việc làm trong mùa nông nhàn lên tới 6,34%, tương đương với tỷ lệ thiếu việc làm bình quân của vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (5,71% đến 6,34%).

Thứ hai, hiện tượng dịch chuyển lao động diễn ra mạnh mẽ nhưng thiếu tính bền vững. Khoảng 20% đến 30% thanh niên nông thôn rời địa phương đi làm ăn xa tại các đô thị lớn. Do hạn chế về trình độ văn hóa và tay nghề kỹ thuật, đại đa số lao động di cư chỉ làm các công việc giản đơn như thợ xây, giúp việc, phụ bếp hoặc bán hàng rong với thu nhập bấp bênh từ 2,5 đến 3,5 triệu đồng/tháng, chịu nhiều rủi ro về an toàn lao động và bảo hiểm xã hội.

Thứ ba, hiệu quả tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi và dịch vụ việc làm công còn thấp. Mặc dù huyện Can Lộc đã triển khai nguồn vốn vay từ Quỹ Quốc gia về việc làm và kênh tín dụng chính sách xã hội, số lượng dự án do thanh niên làm chủ tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi mới chỉ chiếm khoảng 12% đến 15% tổng dư nợ việc làm. Hoạt động của Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện còn mang tính thụ động, chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu tuyển dụng của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh (như Khu kinh tế Vũng Áng hay các cụm công nghiệp phụ cận).

Thảo luận kết quả

Thực trạng việc làm của thanh niên nông thôn Can Lộc bắt nguồn từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Về mặt khách quan, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang phát triển hạ tầng làm thu hẹp tư liệu sản xuất truyền thống, trong khi các ngành công nghiệp chế biến và thương mại dịch vụ tại chỗ chưa đủ sức hấp thụ lượng lao động dôi dư. Về mặt chủ quan, tâm lý coi trọng bằng cấp đại học hơn học nghề của phụ huynh và thanh niên dẫn đến mất cân đối cơ cấu lao động "thừa thầy, thiếu thợ". Thêm vào đó, kinh phí dành cho đào tạo nghề ngắn hạn còn hạn hẹp, chương trình giảng dạy nặng về lý thuyết và thiếu tính thực hành.

So sánh với kinh nghiệm thực tiễn tại tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2010–2015, địa phương này đã giải quyết việc làm cho 253.777 lao động (trong đó có 218.760 lao động nông thôn, chiếm 86,2%) và đưa 44.369 người đi xuất khẩu lao động (75% là thanh niên) nhờ huy động mạnh mẽ 738,522 tỷ đồng cho dạy nghề, trong đó nguồn lực xã hội hóa đạt 57,78%. Đồng thời, bài học từ các chương trình phát triển cộng đồng nông thôn tại Hàn Quốc (huy động 7,5 triệu lượt người tham gia các dự án hạ tầng làng xã) cho thấy Can Lộc cần nhanh chóng chuyển đổi phương thức đào tạo nghề theo cơ chế đặt hàng doanh nghiệp. Trong báo cáo trực quan, các chỉ số này có thể được biểu diễn rõ nét qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu trình độ học vấn của thanh niên và biểu đồ cột so sánh nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp với số lượng lao động được đào tạo hàng năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới và nâng cao chất lượng mạng lưới đào tạo nghề cho lao động trẻ. Ủy ban nhân dân huyện Can Lộc cần chỉ đạo Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên rà soát, mở rộng các ngành nghề phi nông nghiệp, cơ khí sửa chữa, kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao. Mục tiêu đến năm 2020 nâng tỷ lệ lao động thanh niên qua đào tạo nghề lên trên 40%, kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 3,0%.

Thứ hai, mở rộng quy mô tín dụng ưu đãi và hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tại chỗ. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Can Lộc chủ trì phối hợp cùng Huyện đoàn giải ngân hiệu quả nguồn vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm, ưu tiên hạn mức vay ưu đãi từ 50 đến 100 triệu đồng/mô hình cho thanh niên xuất ngũ, thanh niên phát triển kinh tế trang trại, gia trại tại các xã Thượng Lộc, Xuân Lộc, phấn đấu xây dựng từ 50 đến 70 mô hình kinh tế thanh niên tiêu biểu mỗi năm.

Thứ ba, hiện đại hóa hệ thống thông tin thị trường và sàn giao dịch việc làm. Ủy ban nhân dân huyện phối hợp với Tỉnh đoàn và Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh tổ chức định kỳ 2 phiên giao dịch việc làm lưu động mỗi năm tại các cụm xã; số hóa dữ liệu cung - cầu lao động thanh niên để kết nối trực tiếp với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, bảo đảm trên 60% thanh niên có nhu cầu tìm việc được tư vấn, hướng nghiệp chuyên sâu.

Thứ tư, đẩy mạnh xuất khẩu lao động có tay nghề và kết nối khu công nghiệp. Chính quyền cấp xã cùng các đoàn thể đẩy mạnh tuyên truyền chính sách hỗ trợ chi phí học nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng; phấn đấu giai đoạn 2016–2020 mỗi năm đưa từ 400 đến 500 lao động thanh niên đi làm việc có thời hạn tại các thị trường thu nhập cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, bảo đảm nguồn thu ngoại tệ và chuyển giao tác phong công nghiệp khi trở về địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện và cấp xã: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân, cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể sử dụng các số liệu khảo sát thực tế và hệ thống giải pháp trong luận văn làm căn cứ khoa học để xây dựng Đề án giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững địa phương giai đoạn 5 năm.

Nhóm tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội Liên hiệp Thanh niên: Các cấp bộ Đoàn sử dụng tài liệu để thiết kế các phong trào "Đồng hành cùng thanh niên lập thân, lập nghiệp", xây dựng tiêu chí câu lạc bộ thanh niên làm kinh tế giỏi và nâng cao chất lượng công tác định hướng nghề nghiệp cho đoàn viên tại 23 xã, thị trấn.

Nhóm cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp tuyển dụng: Các trường trung cấp nghề, trung tâm dịch vụ việc làm khai thác dữ liệu về nhu cầu học nghề và kỳ vọng thu nhập của 150 mẫu khảo sát để điều chỉnh khung chương trình giảng dạy sát với yêu cầu thực tiễn của thị trường sản xuất.

Nhóm học viên, nhà nghiên cứu kinh tế - xã hội: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh, hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu về thị trường lao động nông thôn và tài liệu tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế, Phát triển nông thôn và Xã hội học lao động.

Câu hỏi thường gặp

Rào cản lớn nhất đối với thanh niên nông thôn huyện Can Lộc khi tìm kiếm việc làm là gì? Rào cản lớn nhất là trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp khi có trên 75% lao động trẻ chưa qua đào tạo nghề bài bản. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu thông tin thị trường chính thống khiến trên 70% thanh niên phải tìm việc qua các mối quan hệ quen biết không chính thức, dẫn đến thu nhập bấp bênh và rủi ro việc làm cao.

Chính sách vay vốn giải quyết việc làm cho thanh niên tại Can Lộc đạt hiệu quả ra sao? Nguồn vốn vay qua Ngân hàng Chính sách Xã hội và Quỹ Quốc gia về việc làm đã giúp hàng trăm thanh niên xây dựng mô hình kinh tế vườn đồi. Tuy nhiên, tỷ lệ tiếp cận vốn của thanh niên nông thôn mới đạt khoảng 12% đến 15% tổng nhu cầu do vướng mắc về thủ tục thế chấp và thiếu phương án sản xuất kinh doanh khả thi.

Xuất khẩu lao động có phải là hướng đi then chốt của huyện Can Lộc không? Xuất khẩu lao động là giải pháp chiến lược giúp giải quyết nhanh tình trạng thất nghiệp cho 1.317 thanh niên địa phương, đồng thời tạo nguồn tích lũy vốn lớn. Hàng năm địa phương hướng tới mục tiêu đưa 400 đến 500 lao động đi làm việc ở nước ngoài, giúp cải thiện rõ rệt đời sống kinh tế hộ gia đình tại các xã thuần nông.

Làm thế nào để khắc phục tình trạng thiếu việc làm mùa vụ trong nông nghiệp tại địa phương? Địa phương cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi sang mô hình kinh tế trang trại tổng hợp, phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Đồng thời, tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn dưới 3 tháng theo Quyết định 1956/QĐ-TTg nhằm giúp lao động chuyển đổi sang làm công nghiệp chế biến trong thời gian nông nhàn.

Doanh nghiệp đánh giá như thế nào về chất lượng lao động thanh niên nông thôn Can Lộc? Các doanh nghiệp đánh giá thanh niên Can Lộc có sức khỏe tốt, cần cù, tiếp thu nhanh nhưng còn thiếu tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động chưa nghiêm và hạn chế về kỹ năng làm việc nhóm. Việc bồi dưỡng kỹ năng mềm và kỷ luật lao động là yêu cầu bắt buộc trước khi cung ứng lao động cho các khu công nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Phân tích làm rõ thực trạng việc làm của 31.006 thanh niên huyện Can Lộc giai đoạn 2013–2015 với tỷ lệ thất nghiệp 4,24% và tỷ lệ thiếu việc làm mùa vụ trên 6,34%.
  • Nhận diện toàn diện các nhân tố ảnh hưởng từ cung - cầu thị trường, hệ thống thông tin việc làm đến các chính sách hỗ trợ của Nhà nước thông qua mẫu khảo sát 150 thanh niên tại 3 xã đại diện.
  • Đề xuất đồng bộ 5 nhóm giải pháp trọng tâm về đào tạo nghề, hỗ trợ vốn tín dụng, phát triển sàn giao dịch việc làm và đẩy mạnh xuất khẩu lao động đến năm 2020.
  • Các cấp chính quyền, tổ chức đoàn thể và cơ sở đào tạo cần nhanh chóng phối hợp triển khai các kiến nghị nhằm tạo bước đột phá trong giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và xây dựng nông thôn mới bền vững tại huyện Can Lộc.