Tổng quan nghiên cứu

Huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên là một trong 56 huyện nghèo nhất cả nước thuộc diện hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ. Đến năm 2018, dân số toàn huyện đạt trên 65.000 người, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm 58,08% (tương đương 38.022 người) và có tới 94,23% lao động cư trú tại khu vực nông thôn. Mỗi năm, địa phương tiếp nhận khoảng 1.200 người bước vào độ tuổi lao động, tạo ra áp lực rất lớn về việc làm khi nền kinh tế thuần nông chỉ tạo mới được khoảng 700 đến 735 chỗ làm việc mỗi năm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là tình trạng thiếu việc làm và sử dụng lãng phí thời gian lao động tại vùng nông thôn. Khảo sát thực tế cho thấy có tới 30,00% lao động chỉ làm việc dưới 4 giờ/ngày và 37,14% làm việc từ 4 đến 6 giờ/ngày, trong khi tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao với 55,48% và thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 10,5 đến 12,5 triệu đồng/người/năm. Mục tiêu nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện giai đoạn 2014-2018, từ đó xác định các điểm nghẽn và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi cho giai đoạn tiếp theo.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào lực lượng lao động nông thôn tại 13 xã và 01 thị trấn thuộc huyện Điện Biên Đông, sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp từ năm 2014 đến 2018 kết hợp số liệu khảo sát thực địa năm 2019. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ thực chứng giúp cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 5,00%/năm và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ thời gian lao động đạt trên 80,00%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng mô hình hàm sản xuất mở rộng Cobb-Douglas $Y = C^\alpha L^\beta T^\gamma$ để giải thích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, vốn đầu tư ($C$), lực lượng lao động ($L$) và trình độ công nghệ ($T$). Mô hình khẳng định muốn tạo thêm việc làm mới và nâng cao năng suất thì không thể chỉ mở rộng sản xuất theo chiều rộng mà bắt buộc phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để vượt qua bẫy thu nhập thấp.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết chính sách thị trường lao động với hai nhóm công cụ chủ đạo: chính sách chủ động (đào tạo nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg, phát triển dịch vụ việc làm, hỗ trợ vốn tự tạo việc làm) và chính sách thụ động (bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp an sinh xã hội). Ba khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo Bộ luật Lao động và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) gồm:

  • Việc làm: Hoạt động lao động tạo ra thu nhập hợp pháp bằng tiền hoặc hiện vật.
  • Thiếu việc làm: Bao gồm thiếu việc làm nhìn thấy (làm việc dưới 36 giờ/tuần nhưng có nhu cầu làm thêm) và thiếu việc làm không nhìn thấy (làm việc dưới mức trình độ chuyên môn được đào tạo).
  • Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn: Quá trình nhà nước và xã hội thiết lập cơ chế kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất thông qua chuyển dịch kinh tế, đào tạo nghề, vay vốn và kết nối cung - cầu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014-2018 thu thập từ Chi cục Thống kê, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Điện Biên Đông. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu khảo sát thực địa tiến hành vào tháng 5 năm 2019.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 350 lao động nông thôn đại diện cho các nhóm dân tộc thiểu số chủ đạo như Mông (chiếm 55,17% dân số huyện), Thái (chiếm 29,58%) và Khơ Mú (chiếm 5,65%). Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp định mức theo địa bàn 13 xã được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả vùng địa hình núi cao và vùng thung lũng ven sông.

Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả, so sánh chuỗi thời gian và phân tích cơ cấu tỷ trọng. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác sự chuyển dịch cơ cấu việc làm qua từng năm, bóc tách mức độ bất hợp lý giữa cung và cầu lao động, đồng thời làm rõ sự tương quan giữa trình độ chuyên môn kỹ thuật với thu nhập thực tế của người lao động trong điều kiện đặc thù của một huyện nghèo miền núi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu lao động chuyển dịch rất chậm và phụ thuộc nặng nề vào khu vực nông nghiệp. Đến hết năm 2018, tỷ trọng lao động làm việc trong ngành nông - lâm - thủy sản vẫn chiếm tới 78,04% (tương đương 28.000 người), chỉ giảm nhẹ 4,10% so với mức 82,14% của năm 2010. Trong khi đó, khu vực công nghiệp - xây dựng chỉ thu hút được 11,35% (4.294 người) và khu vực thương mại - dịch vụ chiếm 10,60% (3.744 người) tổng lực lượng lao động.

Thứ hai, tình trạng thiếu việc làm và lãng phí quỹ thời gian lao động diễn ra phổ biến. Số liệu điều tra thực tế chỉ ra rằng nhóm lao động làm việc từ 1 đến 4 giờ/ngày chiếm 30,00%, nhóm làm việc từ 4,01 đến 6 giờ/ngày chiếm 37,14%, và chỉ có 28,00% lao động làm việc đủ từ 6,01 đến 8 giờ/ngày. Thời gian nhàn rỗi trong nông nghiệp rất lớn do tính chất mùa vụ và thiếu các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp bổ trợ.

Thứ ba, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn còn ở mức thấp. Năm 2018, tỷ lệ lao động nông thôn chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm tới 75,38% (giảm từ 91,03% năm 2010). Tỷ lệ lao động có trình độ sơ cấp nghề đạt 17,61%, nhưng tỷ lệ có bằng trung cấp, cao đẳng, đại học chỉ đạt 7,01%. Sự chênh lệch rất rõ rệt khi so sánh với khu vực thành thị trong huyện, nơi có tới 54,80% lao động sở hữu bằng cấp chuyên môn từ trung cấp trở lên.

Thứ tư, cung lao động hàng năm vượt xa khả năng tạo việc làm tại chỗ. Mỗi năm huyện có khoảng 1.200 người bước vào độ tuổi lao động, nhưng kết quả giải quyết việc làm mới chỉ đạt 735 người vào năm 2018. Hoạt động xuất khẩu lao động và đưa lao động đi làm việc ngoài tỉnh còn nhiều hạn chế, chưa giải tỏa được lượng lao động dư thừa tại chỗ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ điều kiện tự nhiên khắc nghiệt với 85% diện tích là đồi núi dốc trên 900m, giao thông chia cắt, gây cản trở việc thu hút doanh nghiệp sản xuất hàng hóa. Thêm vào đó, tập quán canh tác thuần nông lạc hậu và tâm lý ưa chuộng làm việc trong khu vực nhà nước của một bộ phận người dân đã hạn chế tính chủ động tự tạo việc làm.

Các phát hiện này có sự tương đồng sâu sắc với bài học kinh nghiệm tại tỉnh Lào Cai và huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang), nơi chỉ ra rằng nếu không chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang sản xuất hàng hóa và gắn dạy nghề với nhu cầu doanh nghiệp thì bài toán giải quyết việc làm nông thôn không thể xử lý dứt điểm.

Về mặt trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu cơ cấu việc làm giai đoạn 2010-2018 có thể được mô tả hiệu quả qua biểu đồ cột chồng (stacked bar chart) nhằm làm nổi bật tốc độ thu hẹp chậm chạp của khu vực nông nghiệp. Đồng thời, mức độ lãng phí thời gian lao động trong ngày nên được biểu diễn bằng biểu đồ tròn (pie chart) với ba phân khúc thời gian làm việc để thể hiện rõ nét mức độ thiếu việc làm nhìn thấy của địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết hiệu quả việc làm cho lao động nông thôn huyện Điện Biên Đông đến năm 2025, hệ thống giải pháp đồng bộ cần được triển khai:

Thứ nhất, đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với chuỗi giá trị. Ủy ban nhân dân huyện và Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn cần chỉ đạo chuyển đổi 20-25% diện tích nương đồi kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả, dược liệu và phát triển chăn nuôi đại gia súc tập trung tại các xã Mường Luân, Chiềng Sơ, Luân Giói; phấn đấu nâng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,5-6,0%/năm trong giai đoạn 2020-2025.

Thứ hai, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả nguồn vốn vay từ Quỹ Quốc gia về việc làm. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội đẩy nhanh tiến độ giải ngân, ưu tiên nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho tối thiểu 1.500 lượt hộ nghèo và thanh niên khởi nghiệp mỗi năm, tập trung vào các dự án phát triển mô hình kinh tế trang trại và hợp tác xã nông lâm nghiệp.

Thứ ba, đổi mới toàn diện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg. Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện cần phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp để tổ chức dạy nghề theo địa chỉ sử dụng; đặt mục tiêu đào tạo nghề cho 800 đến 1.000 lao động nông thôn mỗi năm, bảo đảm trên 80,00% học viên có việc làm hoặc nâng cao năng suất canh tác sau khóa học trước năm 2025.

Thứ tư, phát triển thị trường lao động và đẩy mạnh liên kết xuất khẩu lao động. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện chủ trì tổ chức các phiên giao dịch việc làm định kỳ hàng quý, liên kết với các khu công nghiệp tại Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và các doanh nghiệp xuất khẩu lao động uy tín nhằm đưa từ 150 đến 200 lao động đi làm việc ngoài tỉnh và nước ngoài mỗi năm giai đoạn 2021-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện (Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp & PTNT). Các đơn vị này có thể sử dụng hệ thống dữ liệu thực chứng và giải pháp trong luận văn để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đào tạo nghề và triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững theo Nghị quyết 30a.

Nhóm thứ hai là các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trung tâm dịch vụ việc làm trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Luận văn cung cấp căn cứ thực tế về khoảng cách giữa cung và cầu kỹ năng, giúp các trung tâm điều chỉnh danh mục nghề đào tạo bám sát nhu cầu chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi tại địa phương.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản trị nhân lực, Kinh tế phát triển, Xã hội học. Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích về phương pháp nghiên cứu thị trường lao động đặc thù tại các huyện nghèo miền núi phía Bắc.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức phi chính phủ đang triển khai các dự án phát triển sinh kế cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giúp định hình các mô hình đầu tư nông lâm nghiệp kết hợp bao tiêu sản phẩm hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng thiếu việc làm của lao động nông thôn tại huyện Điện Biên Đông diễn ra ở mức độ nào? Thực trạng thiếu việc làm tại huyện diễn ra rất nghiêm trọng dưới hình thức thiếu việc làm nhìn thấy. Khảo sát thực địa cho thấy có 30,00% lao động chỉ làm việc từ 1 đến 4 giờ/ngày và 37,14% làm việc từ 4 đến 6 giờ/ngày. Chỉ có 28,00% người trong độ tuổi lao động đạt mức làm việc đủ từ 6 đến 8 giờ/ngày theo quy định chuẩn của Bộ luật Lao động.

Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của huyện Điện Biên Đông có điểm nghẽn gì lớn nhất? Điểm nghẽn lớn nhất là sự chuyển dịch cơ cấu quá chậm khi khu vực nông - lâm - thủy sản vẫn chiếm tới 78,04% tổng số lao động vào năm 2018. Khu vực công nghiệp - xây dựng chỉ chiếm 11,35% và thương mại - dịch vụ chiếm 10,60%, khiến thị trường thiếu hẳn các ngành nghề phi nông nghiệp để hấp thụ nguồn lao động dư thừa.

Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn đã chuyển biến như thế nào qua các năm? Trình độ chuyên môn kỹ thuật đã có chuyển biến tích cực nhưng tỷ lệ chưa qua đào tạo vẫn ở mức cao. Tỷ lệ lao động không có chuyên môn kỹ thuật giảm từ 91,03% năm 2010 xuống 75,38% năm 2018. Lao động có trình độ sơ cấp nghề tăng từ 3,38% lên 17,61% nhờ tác động tích cực của Đề án 1956/QĐ-TTg.

Chính sách cho vay vốn giải quyết việc làm đóng vai trò ra sao trong công tác giảm nghèo tại huyện? Nguồn vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm là công cụ đòn bẩy thiết yếu giúp các hộ gia đình tự tạo việc làm và mở rộng sản xuất. Nguồn vốn này kết hợp cùng các chương trình mục tiêu quốc gia đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện từ 70,67% năm 2015 xuống 55,48% năm 2018, bình quân giảm 5,16%/năm.

Giải pháp nào mang tính đột phá để giải tỏa áp lực việc làm cho địa phương trong ngắn hạn? Giải pháp đột phá ngắn hạn là đẩy mạnh kết nối cung - cầu lao động ngoài địa bàn thông qua các hội chợ việc làm định kỳ, phối hợp với các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp trọng điểm phía Bắc và đẩy mạnh xuất khẩu lao động theo hợp đồng nhằm tạo thu nhập ổn định cho người dân.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thị trường lao động, việc làm và chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc thù.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng lao động tại huyện Điện Biên Đông giai đoạn 2014-2018, chỉ rõ các điểm nghẽn về cơ cấu kinh tế với 78,04% lao động nông nghiệp và 67,14% lao động làm việc dưới 6 giờ/ngày.
  • Đánh giá khách quan hiệu quả của các chính sách an sinh xã hội, đào tạo nghề theo Đề án 1956/QĐ-TTg và giảm nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống 55,48% năm 2018.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao gắn kết giữa tái cơ cấu nông nghiệp, mở rộng tín dụng giải quyết việc làm, đổi mới dạy nghề và kết nối cung - cầu lao động ngoại tỉnh.
  • Đóng góp bộ cơ sở dữ liệu thực chứng và khung giải pháp đồng bộ có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản trị nhân lực và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn 2020-2025.

Để giải quyết triệt để bài toán việc làm nông thôn, chính quyền huyện Điện Biên Đông cần khẩn trương cụ thể hóa các nhóm giải pháp trên thành chương trình hành động chi tiết ngay trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2020-2025. Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng trực tiếp mô hình phân tích của luận văn để mở rộng nghiên cứu tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng.