lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, Đề tài đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực lao động trong tổ chức. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng tạo động lực lao động cho giảng viên ở trƣờng Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng. Chƣơng 3: Giải pháp tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên Trƣờng Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY LÀM VIỆC CHO GIẢNG VIÊN 1.
Khái niệm về tạo đông lực và giảng viên đại học 1. Khái niệm về động lực, tạo động lực Xung quanh vấn đề động lực và tạo động lực đến nay có nhiều khái niệm nhƣ: a) Động lực trong lao động. Trong giai đoan hiện nay nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tổ chức. Vấn đề tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp, nó thúc đẩy ngƣời lao động hăng say làm viậc nâng cao nắng suất lao động.
Có nhiều quan niệm khác nhau về tạo động lực trong lao động nhƣng đều có những điểm chung cơ bản nhất. Theo giáo trình quản trị nhân lực của ThS. Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lƣc, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động”.
Suy cho cùng động lực trong lao động là sự khao khát và tự nguyện nhằm tăng cƣờng mọi sự nỗ lực của con ngƣời để đạt tới một mục đích và kết quả cụ thể nào đó của tổ chức. Từ những quan điểm về động lực trong lao động ở trên ta nhận thấy, tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực, nhƣng đều nói lên bản chất của động lực là những gì kích thích con ngƣời hành động để đạt tới mục tiêu nào đó. Mục tiêu của ngƣời lao động đặt ra một cách có ý thức đƣợc phản ánh bởi động cơ của ngƣời lao động và quyết định hành động của họ. Vậy động cơ lao động là gì và đƣợc thể hiện nhƣ thế nào? và mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tao ra đƣợc động lực để ngƣời lao động có thể làm việc đạt 7 hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức.
b) Động cơ lao động: Động cơ lao động đƣợc thể hiện ở: - Mục tiêu thu nhập: Đây là mục tiêu hàng đầu của ngƣời lao động khi họ tham gia vào quá trình lao động, vì thu nhập là nguồn vật chất chủ yếu đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con ngƣời. - Mục tiêu phát triển cá nhân: Là mục tiêu hoàn thiện nhân cách cá nhân con ngƣời thông qua hoạt động xã hội. Khi thu nhập đã đảm bảo cuộc sống hàng ngày về mặt vật chất ở một mức nào đó thì ngƣời lao động luôn có xu hƣớng học tập để nâng cao sự hiểu biết cũng nhƣ nâng cao trình độ chuyên môn của mình. - Mục tiêu về thỏa mãn hoạt động xã hội: Con ngƣời muốn đƣợc thể hiện mình thông qua tập thể khi các mục tiêu về thu nhập và mục tiêu phát triển cá nhân đã đƣợc đáp ứng thì ngƣời lao động luôn có xu hƣớng tìm cách để khẳng định vị trí của mình trong xã hội thông qua các hoạt động xã hội.
Qua đó, để đạt đƣợc hiệu quả sản xuất cao thì các nhà quản lý phải xác định đƣợc động cơ của ngƣời lao động, hay nói cách khác là phải xác định đƣợc nhu cầu của ngƣời lao động trong từng giai đoạn phát triển của họ đang ở mức độ nào, từ đó có thể đƣa ra những phƣơng án để thỏa mãn những nhu cầu đó một cách hợp lý, qua đó tạo động lực cho ngƣời lao động. Tạo động lực lao động: Trong sản xuất kinh doanh, muốn đạt đƣợc hiệu quả cao, năng suất lao động cao thì bất kỳ tổ chức nào cũng cần phải có đội ngũ nhân viên mạnh. Ngoài trình độ chuyên môn, đạo đức thì vấn đề động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của ngƣời lao động. Để tạo cho nhân viên vui vẻ, tích cực và có tính sáng tạo cao trong công việc thì cần phải có biện pháp tạo động lực hiệu quả.
Có nhiều quan điểm khác nhau về tạo động lực lao động.TS Lê Thanh Hà cho rằng: “Tạo động lực là xây dựng và thực thi một hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản trị tác động đến ngƣời lao động, khiến cho ngƣời lao động yêu thích và sáng tạo hơn trong công việc để đạt đƣợc kết quả tốt nhất có thể đối với mỗi nhiệm vụ cụ thể đƣợc giao” (2009), Giáo trình QTNL, NXB Lao động - xã hội, tr. “Tạo động lực lao động đƣợc hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật 8 quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong làm việc”. Đối với ngƣời lao động, quá trình lao động ở tổ chức luôn có xu hƣớng bị nhàm chán, bị tác động bởi các yếu tố trong quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Do vậy, tinh thần thái độ và tích cực của họ có xu hƣớng giảm sút và tất yếu họ sẽ tìm cách rời khỏi tổ chức.
Do đó, tổ chức cần sử dụng đúng đắn các biện pháp kích thích động lực lao động để ngƣời lao động luôn hăng hái, tích cực, có tinh thần trách nhiệm cao. Với cách hiểu nhƣ trên về động lực lao động, có thể hiểu tạo động lực lao động là: “Hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức”. Vậy thực chất của tạo động lực chính là quá trình làm nảy sinh động lực lao động trong mỗi cá nhân ngƣời lao động. Đó chính là việc xác định các nhu cầu và làm thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của ngƣời lao động, làm tăng thêm lợi ích cho họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất.
Tóm lại nhà quản lý của tổ chức cần xây dựng và thực thi hệ thống các chính sách, các biện pháp trong quá trình quản trị nguồn nhân lực nhằm tác động đến ngƣời lao động giúp họ có động cơ, động lực làm việc nhằm tạo ra năng suất, chất lƣợng lao động cao, khả năng làm việc, chất lƣợng công việc đồng thời ngƣời lao động tự hoàn thiện bản thân, phát huy, sáng tạo, cải tiến trong quá trình làm việc. Khái niệm giảng viên tại các trƣờng đại học 1. Khái niệm Theo Điều 21 Luật Giáo dục: “Nhà giáo là ngƣời làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trƣờng, cơ sở giáo dục khác” [tr. Trong hệ thống giáo dục quốc dân của nƣớc ta có các cấp học: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học.
Trong đó, Giáo dục đại học và sau đại học đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ. Tƣơng ứng với mỗi cấp học, nhà giáo sẽ có tên gọi khác nhau. Theo Đại từ điển tiếng Việt, trang 624: “Giảng viên là ngƣời giảng dạy tại trƣờng đại học hay lớp huấn luyện cán bộ”. 9 Còn theo Khoản 23 Điều 1 Luật số 44/2009/QH12 ngày 25/11/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục số 38/2005/QH11 của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đƣa ra “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trƣờng cao đẳng nghề gọi là giảng viên” [tr.
Từ đó, Giảng viên là người tham gia công tác giảng dạy tại trường đại học, cao đẳng và cao đẳng nghề. Đặc điểm của giảng viên tại các trường đại học Giảng viên cũng nhƣ ngƣời lao động khác đều là đối tƣợng chính của các hoạt động quản trị nhân lực. Tuy nhiên do đặc thù nghề nghiệp, giảng viên có đặc điểm riêng. Cụ thể đó là: Thứ nhất, giảng viên là lực lƣợng lao động chất xám, có trình độ, trí thức khoa học, có tính sáng tạo, tự trọng cao.
Không giống nhƣ các lao động trực tiếp giản đơn khác, việc đánh giá và đo lƣờng thực hiện công việc đối với lao động trí óc gặp khó khăn hơn nhiều so với lao động bình thƣờng; Thứ hai, các hoạt động của giảng viên rất đa dạng, có thể thực hiện ở nhiều hình thức khác nhau. Kết quả công việc của giảng viên vừa rõ ràng vừa không rõ ràng, vừa định lƣợng đƣợc vừa không định lƣợng đƣợc. Ngoài hai nhiệm vụ chính là giảng dạy và nghiên cứu khoa học thì giảng viên còn tham gia nhiều công tác khác nhƣ sinh hoạt chuyên môn, coi thi, chấm thi.Kết quả công việc liên quan về mặt hành chính có thể định lƣợng đƣợc đó là số giờ thực giảng, luận án và luận văn hƣớng dẫn., nhƣng cũng có những mặt khó xác định nhƣ khả năng truyền đạt, thái độ giảng dạy. Để đánh giá thực hiện công việc của giảng viên cần căn cứ vào chất lƣợng giảng dạy, nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên những nội dung này khó đánh giá, đặc biệt là phải qua thời gian mới đánh giá đƣợc. Điều này ảnh hƣởng đặc biệt tới việc xác định chu kỳ đánh giá cũng nhƣ xây dựng các tiêu chí đánh giá cho phù hợp; Thứ ba, đối với giảng viên thì đối tƣợng lao động chính là sinh viên - học viên, những ngƣời có trình độ và nhận thức nhất định. Qua hoạt động giảng dạy của giảng viên, sinh viên không những nắm đƣợc kiến thức, kỹ năng phục vụ cho công việc sau này mà còn phát triển nhân cách của mình. Chính đối tƣợng đặc biệt nhƣ vậy nên yêu cầu về trình độ, kỹ năng phẩm chất của giảng viên càng ngày càng cao.