CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Một số khái niệm cơ bản Động lực Khái niệm Trong giai đoạn hiện nay nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tổ chức. Vì vậy, tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự, nó thúc đẩy người lao động hăng say làm việc nâng cao năng suất lao động. Trên thực tế có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực lao động. Kreiter cho rằng động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định.
“Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu của tổ chức”.{trang 128} Theo giáo trình Hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn: “ Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”[7, tr 151] Từ những nghiên cứu trên ta có thể hiểu: “Động lực là những nhân tố bên trong kích thích bản thân mỗi cá nhân nỗ lực làm việc với sự khao khát và tự nguyện để đạt được các mục tiêu của bản thân và mục tiêu của tổ chức ”. Bản chất của động lực lao động Từ những quan điểm về động lực trong lao động ở trên ta nhận thấy động lực lao động có những bản chất sau: - Động lực lao động thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ với tổ chức. Điều này có nghĩa là không có động lực chung cho mọi lao động.
Mỗi người 5 lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. - Động lực không hoàn toàn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực lao động rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động chưa chắc đã còn trong họ.
Như vậy, động lực còn phụ thuộc vào điều kiện chủ quan của người lao động. - Động lực lao động mang tính tự nguyện, phụ thuộc vào chính bản thân người lao động. Người lao động sẽ hăng say làm việc khi họ không có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Khi được làm việc một cách chủ động, tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất.
- Động lực đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao động chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động, bởi vì điều kiện này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động, vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất. Tạo động lực cho người lao động Tạo động lực cho người lao động là vấn đề thuộc lĩnh vực quản trị nhân sự của mỗi doanh nghiệp.
Các nhà quản trị trong tổ chức muốn xây dựng đơn vị mình vững mạnh thì phải áp dụng mọi biện pháp kích thích người lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc.[9] Vậy tạo động lực cho người lao động được hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng vào người lao động nhằm tạo ra động cơ làm việc cho người lao động thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp, vừa thỏa mãn mục tiêu và lợi ích của người lao động bằng các biện pháp kích thích vật chất và tinh thần khác nhau. [ 10, tr87] 6 Vậy vấn đề quan trọng của tạo động lực đó là mục tiêu. Nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của người lao động, tạo cho người lao động hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết được mục đích hướng tới của người lao động sẽ là gì ? Từ đó thúc đẩy động cơ làm việc cho người lao động. * Hệ thống các mục tiêu chính của người lao động : - Mục tiêu thu nhập: Đây là mục tiêu quan trọng nhất khiến người lao động làm việc, người ta thường bảo“có thực mới vực được đạo”.
Thu nhập đảm bảo cho người lao động trang trải cuộc sống bản thân và gia đình, cho việc học tập cũng như một phần tích lũy. - Mục tiêu phát triển cá nhân: Đây là mục tiêu mà người lao động mong muốn tự làm hoàn thiện mình thông qua các hoạt động đào tạo, phát triển, các hoạt động văn hóa xã hội. Mục tiêu này được nâng cao, chú trọng hơn khi người lao động đã có đủ thu nhập để đảm bảo cuộc sống. - Mục tiêu thỏa mãn các hoạt động xã hội: Là nhu cầu được tham gia vào các hoạt động xã hội để được hòa nhập, giao lưu, chia sẻ và tìm kiếm một vai trò trong xã hội.
Khi hai mục tiêu trên đã được đáp ứng thì nhu cầu thỏa mãn các hoạt động xã hội được người lao động chú trọng và quan tâm hơn. Điều này giải thích tại sao khi các chính trị gia, các tỷ phú trên thế giới thường dành thời gian cho các hoạt động xã hội, từ thiện sau khi thành đạt. “ Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đầu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức”. [7,Trang 91] * Hệ thống nhu cầu của người lao động: - Nhu cầu về vật chất: Là những nhu cầu cơ bản nhất đảm bảo cuộc sống của người lao động bao gồm: ăn, mặc, ở, đi lại,…Đây là nhu cầu sinh lý cơ bản và cũng là động lực chính khiến người lao động phải làm việc.
Đối với mỗi cá nhân khác nhau thì nhu cầu về vật chất là khác nhau về mức độ: có 7 những người thích hưởng thụ ăn ngon, mặc đẹp, đi xe sang chứ không thích tích lũy tiền bạc; ngược lại có những người chỉ thích có thật nhiều tiền chứ việc ăn mặc đi lại thế nào cũng được. Tuy nhiên cuộc sống ngày càng được nâng cao thì các đòi hỏi về vật chất cũng tăng lên và chú trọng vào chất lượng thay vì chú trọng về số lượng. - Nhu cầu về tinh thần: Là những nhu cầu đòi hỏi của con người được đáp ứng những điều kiện để tồn tại và phát triển về mặt trí lực. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu hưởng thụ các giá trị tinh thần ngày càng cao, các giá trị về đời sống tinh thần ngày càng được tôn vinh.
Nhu cầu về tinh thần bao gồm: nhu cầu học tập để nâng cao trình độ, nhu cầu về các giá trị chân- thiện- mỹ và giao tiếp xã hội, nhu cầu công bằng trong xã hội,. Nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người có mỗi quan hệ biện chứng với nhau bắt nguồn từ mỗi quan hệ giữa vật chất - ý thức. Đây là hai nhu cầu chính tồn tại trong mỗi con người, tuy nhiên trong những hoàn cảnh khác nhau mà người lao động sẽ ưu tiên cho nhu cầu vật chất hay tinh thần hơn. Vì vậy, nhiệm vụ của các nhà quản trị là phải xác định được xem là người lao động của họ đang ưu tiên cho nhu cầu nào để đưa ra các biện pháp kích thích phù hợp giúp họ phát huy hết khả năng làm việc.
Động cơ Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, các nhà quản trị thường đặt ra câu hỏi: Tại sao người lao động lại làm việc? Trong cùng một điều kiện làm việc tại sao có người làm việc nghiêm túc đạt hiệu quả cao, có người lại không đạt hiệu quả?. Điều này được lý giải bởi hệ thống động cơ nhu cầu và lợi ích của người lao động đã tạo ra điều đó. Động cơ được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao nhất để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống.
Động cơ thúc đẩy và chi phối con người hành động. Trong một tình huống, 8 các cá nhân khác nhau có thể có các động cơ khác nhau; Ngược lại trong các các tình huống khác nhau thì động cơ của một các nhân có thể khác nhau. Đồng thời mức độ thúc đẩy của động cơ cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân, cũng như trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau. Động cơ rất trừu tượng và khó xác định: Động cơ thường được che dấu từ nhiều động cơ thực do yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội.
Động cơ luôn biến đổi, biến đổi theo môi trường và biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau. Khi đói khát thì động cơ làm việc là để được ăn no mặc ấm, khi các nhu cầu cơ bản này được đáp ứng thì động cơ thúc đẩy làm việc để giàu có hay là tìm kiếm cho bản thân một địa vị xã hội…Vậy nên để nắm được động cơ thúc đẩy người lao động làm việc thì phải xét đến từng thời điểm cụ thể trong những hoàn cảnh cụ thể và đối với từng cá nhân người lao động. Người lao động cũng vậy, họ bị thúc đẩy bởi trạng thái mong muốn để có thể thỏa mãn được những mong muốn này buộc họ phải nỗ lực phấn đấu. Mong muốn càng lớn thì mức độ nỗ lực càng cao, tức là động cơ càng lớn.
Nếu những mong muốn này được thỏa mãn thì mức độ mong muốn sẽ giảm đi. Nhu cầu và mong muốn Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu hụt, không thỏa mãn về một cái gì đó.