CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC .1 Khái niệm và tầm quan trọng của tạo động lực lao động 1.1 Khái niệm động lực và tạo động lực lao động a. Khái niệm động lực Trong kinh doanh, bất kì tổ chức hay doanh nghiệp nào muốn đạt hiệu quả năng suất và lợi nhuận cao đều chú trọng đầu tư nguồn nhân lực chất lượng. Ngoài các yêu cầu cơ bản như kiến thức chuyên môn, các kĩ năng và đạo đức nghề nghiệp thì động lực làm việc được coi là yếu tố quyết định trực tiếp tới hiệu quả của tổ chức về các chiến lượcc đề ra. Bởi chính động lực này sẽ kích thích tinh thần, khả năng sáng tạo, sự yêu thích, gắn bó và nhiệt huyết với công việc của mỗi cá nhân.
Và từ đó có rất nhiều khái niệm về động lực lao động được ra đời: Daft & Marcic (2008) cho rằng động lực được định nghĩa như một hay nhiều nguồn lực mà khơi gợi nhiệt huyết và sự kiên trì để theo đuổi một phương hướng xác định của hành động. Theo Robbins (1993) động lực lao động là sự sẵn sàng tạo ra sự nỗ lực ở mức độ cao vì mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện các nhu cầu cá nhân được thỏa mãn. Theo Maier và Lawler (1975), động lực đóng vai trò như chất xúc tác để biến động cơ thành hành động có ích, là sự thôi thúc, thúc đẩy con người hoạt động. Biểu hiện của động lực làm việc là sự sẵn sàng, say mê, kiên trì làm việc nhằm đáp ứng mục tiêu của cá nhân và mục tiêu lớn sau cùng của tổ chức.
Theo đó “Kết quả thực hiện công việc = Khả năng × động lực”. Theo Bùi Anh Tuấn (2013), giáo trình Hành vi tổ chức, Nhà xuất bản Kinh tế Quốc dân, Hà Nội thì động lực lao động là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố tác động đến con người trong lao động. Như vậy, trong thực tế, có rất nhiều quan điểm khác nhau được phát biểu về động lực lao động, tuy nhiên yếu tố cốt lõi của động lực lao động vẫn hướng tới sự 6 tự nguyện xuất phát từ các nỗ lực, niềm khát khao, có khả năng thúc đẩy và chuyển biến hành vi để đạt được mục tiêu của cá nhân và doanh nghiệp. Và có thể rút ra một cách tổng quát nhất:” Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Nhà quản lý phải tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu môi trường làm việc, mối quan hệ trong tổ chức để có biện pháp tạo động lực hiệu quả. Khái niệm tạo động lực Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2004), giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Kinh tế Quốc dân, Hà Nội thì tạo động lực lao động là tổng hợp các phướng pháp và cách thức mà doanh nghiệp, các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khát khao nỗ lực, sáng tạo một cách tự nguyện của người lao động, họ yêu thích và mong muốn đạt được mục tiêu tổ chức như chính mục tiêu cá nhân của mình. Theo Bùi Anh Tuấn (2013), giáo trình Hành vi tổ chức, Nhà xuất bản Kinh tế Quốc dân, Hà Nội thì: “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lí tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”.
Như vậy, “Tạo động lực lao động được hiểu là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt các mục tiêu của tổ chức”. Công tác tạo động lực tốt cho người lao động đòi hỏi các nhà quản trị cần tìm hiểu và phân tích rõ nhu cầu, mục tiêu làm việc của người lao động để có kế hoạch và chiến lược cụ thể, đảm bảo các quá trình cơ bản: Xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện và đánh giá kết quả tạo động lực. Các công cụ và phương pháp cần áp dụng linh hoạt phù hợp cho từng đối tượng khác nhau của tổ chức.2 Vai trò của động lực lao động Theo Crossman & Abou Zaki (2003), động lực là những hành động khuyến khích như bản thân công việc, tiền lương, sự thăng tiến giám sát và mối quan hệ 7 đồng nghiệp có thể ảnh hưởng tới thái độ, hành vi và xác định mức độ đam mê, cam kết, sự tham gia, sự tập trung. Theo Mujah, Sigh anh D’Cruz (2011), động lực là khả năng của một cá nhân làm việc, ham muốn làm việc một cách tự nguyện trên những việc mang lại sự hài lòng, phấn khích, thu hút và sai khiến.
Như vậy mục tiêu chính của động lực lao động là đưa đến sự hài lòng, thỏa mãn trong nhận thức, hành vi để mang lại sự tự nguyện làm việc và tham gia. Và vai trò của động lực lao động không chỉ đơn thuần đối với doanh nghiệp mà cả đối với người lao động và cả xã hội. Đối với người lao động Động lực lao động có tầm quan trọng trong việc kích thích khả năng sáng tạo và tinh thần làm việc của người lao động. Động lực làm việc thỏa mãn nhu cầu sẽ là sự thúc đẩy vô hình giúp người lao động yêu thích, say mê và có hứng thú với công việc của mình.
Tinh thần tích cực, thoải mái, được tạo điều kiện làm việc sẽ khơi gợi phát triển tài năng, sự đóng góp, cống hiến cho công việc một cách tự nguyện tự nguyện hơn. Người lao động sẽ sôi nổi thi đua và cùng nhau tạo nên những thành quả tốt trong công việc. Động lực lao động giúp nâng cao hiệu quả công việc. Môi trường năng động sẽ khiến bản thân người lao động thể hiện sự nhiệt huyết, sẵn sàng nỗ lực, không chỉ dừng lại ở mức độ hoàn thành, họ còn phấn đấu đạt ngưỡng cao hơn mong đợi, dần tiến lên những cột mốc mới, góp phần cho mục tiêu chung của doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh.
Họ sẽ có khả năng chịu trách nhiệm ở mức độ cao hơn, năng lực được trau dồi và phát triển, lâu dài sẽ tạo ra nguồn lợi ích lớn cho bản thân và cho cả doanh nghiệp. Động lực lao động góp phần nâng cao sức lao động. Tổ chức tạo động lực tốt cho người lao động đồng nghĩa với môi trường làm việc sẽ gia tăng sự hào hứng, không khí trở nên hòa đồng, thân thiện, tạo tâm lí và trạng thái tinh thần tốt khiến sức trong lao động cũng tỉ lệ thuận gia tăng theo. Hiệu suất tăng, mỗi giờ làm việc sẽ mang lại mức thu nhập tốt hơn nhiều cho người lao động.
Đối với doanh nghiệp Người lao động có động lực sẽ giúp doanh doanh nghiệp tăng năng suất lao động. Mỗi người lao động khi tăng hiệu quả công việc sẽ có thể rút ngắn thời gian hoàn thành hay tối ưu chi phí so với kế hoạch ban đầu. Bên cạnh đó, còn có thể sáng tạo ra các phương pháp phù hợp giúp giảm thiểu rủi ro trong quá trình làm việc, nhằm tăng doanh thu và lợi nhuận tăng lên đáng kể. Động lực lao động tốt sẽ tạo ra sự gắn bó lâu dài, trung thành của đội ngũ nhân viên chuyên môn giỏi.
Khi tạo động lực lao động đủ lớn, họ sẽ có xu hướng hài lòng với công việc và mong muốn cống hiến dài lâu, giảm thiểu được chi phí tuyển dụng, đào tạo nhân viên mới; đồng thời nhân viên cũ đã có kiến thức, kinh nghiệm dễ dàng đối phó và xử lí tình huống cấp bách. Họ sẽ là những người hỗ trợ đắc lực, giảm bớt gáng nặng cho các cấp quản lí trong doanh nghiệp, giúp duy trì hoạt động ổn định, cả khi trong trường hợp thiếu hụt nhân viên. Tạo động lực tốt có thể thu hút được nguồn nhân lực mới chất lượng. Nếu chính sách tạo động lực tốt sẽ chiêu mộ được nhân tài, nhất là trong thời kì thị trường lao động chất lượng cao đang cạnh tranh gay gắt.
Được coi là một trong những điều kiện hấp dẫn mà người lao động quan tâm khi ứng tuyển vào bất cứ doanh nghiệp nào. Đồng thời động lực lao động đóng vai trò là tiền đề cho sự phát triển bền vững do tăng hiệu quả sử dụng lao động: Nhân tố con người luôn là yếu tố phát triển cốt lõi trong tổ chức, nguồn lao động được sử dụng hiệu quả nhờ tạo động lực sẽ giúp nâng cao chất lượng công việc, trực tiếp góp phần hoàn thiện chiến lược kinh doanh nhằm tăng chất lượng hàng hóa, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Từ đó đẩy mạnh doanh thu, lợi nhuận, tạo sự phát triển bền vững cho tổ chức. Đối với xã hội Mỗi doanh nghiệp đóng vai trò như một mảnh ghép với vai trò hoàn thiện nền móng kinh tế của Nước Nhà, nền kinh tế có vững mạnh hay không phần nhiều dựa vào sự phát triển nội tại mỗi doanh nghiệp.
Bởi vậy, việc chú trọng tạo động lực 9 cho người lao động nhằm tăng hiệu quả sử dụng, năng suất lao động, kích thích sự sáng tạo, đóng góp nhiều sáng kiến mới giúp tăng trưởng kinh tế chung toàn xã hội. Bên cạnh việc bản thân mỗi doanh nghiệp quan tâm tới người lao động của mình thì Nhà nước cũng cần có những biện pháp, chính sách quan tâm và đẩy mạnh tinh thần cho người lao động, để giúp các doanh nghiệp trong nước có điều kiện vươn lên cạnh tranh với các quốc gia đã và đang phát triển trên thế giới.2 Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến công tác tạo động lực cho người lao động 1.1 Các nhân tố thuộc về môi trường bên trong a. Các yếu tố thuộc về bản thân người lao động. * Mục tiêu của người lao động Mỗi người sẽ đặt ra cho mình các mục tiêu riêng và chia thành các giai đoạn cụ thể.
Mỗi mục tiêu có vai trò đòn bẩy, tạo động lực để đạt kết quả như mong đợi. Mục tiêu càng cao thì động lực càng lớn, thúc đẩy năng lực và khát khao chinh phục các mục tiêu sau cùng. Tuy nhiên, các mức độ tạo động lực sẽ khác nhau tùy vào nhiệm vụ, chức năng vị trí đảm nhận nhưng chung quy vẫn sẽ khiến người lao động cố gắng, có tinh thần và nhiệt huyết để làm tốt công việc.