Tổng quan nghiên cứu

Huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La là địa bàn miền núi với diện tích tự nhiên 105.600 ha, gồm 11 đơn vị hành chính cấp xã. Trong giai đoạn 2010 - 2019, quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại địa phương ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực: tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 48% năm 2010 xuống còn 16,8% năm 2019; toàn huyện lũy kế đạt 153 tiêu chí nông thôn mới, trung bình đạt 13,9 tiêu chí/xã với 5 xã đạt chuẩn. Tuy nhiên, bài toán kinh tế nông thôn tại đây vẫn đối mặt với thách thức lớn khi thu nhập bình quân của người dân chỉ đạt 14,16 triệu đồng/khẩu/năm, tương ứng 63,97 triệu đồng/hộ/năm. Mức thu nhập này thấp hơn đáng kể so với ngưỡng yêu cầu từ 36 triệu đồng/người/năm trở lên theo Tiêu chí số 10 trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới áp dụng cho vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.

Sau quá trình di dân phục vụ công trình Thủy điện Sơn La, diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể, trong khi quy mô lòng hồ mở rộng trên 10.527 ha. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc sinh kế cho 64.378 nhân khẩu tại địa phương. Đề tài tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng thu nhập của người dân giai đoạn 2017 - 2019 và nhận diện các yếu tố chi phối. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao thu nhập bền vững, hỗ trợ các xã hoàn thành nhóm tiêu chí kinh tế và tổ chức sản xuất. Ý nghĩa của nghiên cứu được thể hiện rõ qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp chính quyền địa phương chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phấn đấu đưa thu nhập bình quân đầu người tiệm cận mục tiêu phát triển giai đoạn 2020 - 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết kinh tế nông hộ của Alexander Chayanov nhằm luận giải hành vi phân bổ nguồn lực lao động trong điều kiện kinh tế hộ gia đình không thuần túy tối đa hóa lợi nhuận tư bản, mà ưu tiên tối đa hóa phúc lợi và thù lao lao động nội bộ. Đồng thời, mô hình kinh tế nông hộ của Howard N. Barnum và Lyn Squire được kết hợp để phân tích tương quan giữa thời gian lao động sản xuất nông nghiệp, hoạt động phi nông nghiệp và việc làm thuê ngoài thị trường.

Khung lý thuyết của luận văn xoay quanh 4 khái niệm nền tảng:

  • Nông thôn mới: Mô hình phát triển toàn diện nông thôn theo 5 nội dung cơ bản, gắn kết cấu hạ tầng hiện đại với sản xuất hàng hóa bền vững theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg và Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
  • Kinh tế hộ nông dân: Đơn vị kinh tế cơ sở vừa thực hiện chức năng sản xuất vừa tiêu dùng, trong đó chủ hộ trực tiếp quản lý và sử dụng lao động gia đình.
  • Thu nhập hỗn hợp của hộ: Toàn bộ giá trị sản xuất thu được trừ chi phí vật chất, chi phí thuê ngoài, thuế và khấu hao tài sản cố định.
  • Đa dạng hóa sinh kế: Quá trình phân bổ các nguồn lực (đất đai, vốn, lao động) vào nhiều ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và thương mại dịch vụ nhằm giảm thiểu rủi ro kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2017 - 2019 thu thập từ Chi cục Thống kê huyện Quỳnh Nhai, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội với dữ liệu sơ cấp thu thập năm 2019. Cỡ mẫu sơ cấp gồm 90 hộ gia đình được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích, đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái - kinh tế điển hình của huyện:

  • Vùng cao: Xã Chiềng Khay (xã khu vực III, tỷ lệ hộ nghèo 37% với 559 hộ nghèo).
  • Vùng dọc Quốc lộ 6B: Xã Mường Giàng (xã khu vực I, đạt chuẩn nông thôn mới năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo 3,4% với 93 hộ nghèo).
  • Vùng dọc lòng hồ thủy điện: Xã Chiềng Ơn (xã khu vực II, tỷ lệ hộ nghèo 11,7% với 75 hộ nghèo).

Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 16 cán bộ chuyên trách gồm 4 cán bộ cấp phòng thuộc huyện và 12 cán bộ cấp xã. Phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh, phương pháp xếp hạng và hạch toán kinh tế được áp dụng đồng bộ. Việc lựa chọn các phương pháp phân tích này xuất phát từ yêu cầu phải tính toán chính xác cơ cấu doanh thu, chi phí sản xuất, phân hóa thu nhập giữa các nhóm hộ và định lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực đến thu nhập thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế cho thấy cơ cấu thu nhập của người dân khu vực nông thôn huyện Quỳnh Nhai năm 2019 đạt mức bình quân 63,97 triệu đồng/hộ/năm, tương đương 14,16 triệu đồng/khẩu/năm. Mức thu nhập này chỉ đạt khoảng 39,33% so với chuẩn nông thôn mới quy định cho năm 2020. Sự phân hóa thu nhập diễn ra rõ nét giữa các khu vực địa lý: tại xã nông thôn mới Mường Giàng, tỷ lệ hộ nghèo chỉ ở mức 3,4%, trong khi tại xã vùng cao Chiềng Khay tỷ lệ hộ nghèo lên tới 37%, tạo ra khoảng cách chênh lệch thu nhập bình quân đầu người gần 3 lần giữa hai khu vực.

Về phân bổ lao động và tổ chức sản xuất, tổng số người trong độ tuổi lao động của huyện năm 2019 là 38.467 người, trong đó 34.861 người có việc làm. Tuy nhiên, tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tới 80,10%, khu vực công nghiệp - xây dựng chỉ chiếm 12% và thương mại - dịch vụ chiếm 7,9%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ở mức thấp, chỉ đạt 23%. Toàn huyện đã thành lập được 57 hợp tác xã nông nghiệp, trong đó 46 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nuôi trồng và đánh bắt thủy sản với sản lượng nuôi đạt 1.580 tấn và khai thác 550 tấn. Mặc dù bước đầu thu hút được 6 doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, chuỗi liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm chủ lực vẫn còn lỏng lẻo, khiến giá trị gia tăng của nông sản chưa cao.

Thảo luận kết quả

Thực trạng thu nhập thấp và phân hóa bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân mang tính cấu trúc. Quy mô đất sản xuất nông nghiệp toàn huyện chỉ chiếm 18.069,72 ha trong tổng số 58.852,94 ha đất nông nghiệp; diện tích bình quân cây hàng năm là 13.817,02 ha nhưng chịu sự chia cắt địa hình lớn. Trình độ học vấn của các chủ hộ khảo sát phần lớn ở bậc tiểu học và trung học cơ sở, làm hạn chế khả năng tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật và năng lực quản trị rủi ro thị trường. Khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của các hộ vùng sâu còn gặp rào cản do thiếu tài sản thế chấp có giá trị cao.

So sánh với bài học kinh nghiệm tại huyện Xuân Lộc và thị xã Long Khánh (tỉnh Đồng Nai) - nơi giá trị sản xuất đạt 115,5 đến 170 triệu đồng/ha và thu nhập bình quân đạt 37,6 đến 38,6 triệu đồng/người/năm nhờ quy hoạch các vùng chuyên canh cây ăn trái công nghệ cao, Quỳnh Nhai còn thiếu các chuỗi giá trị hàng hóa lớn. Tương tự, mô hình dồn điền đổi thửa và phát triển làng nghề tại huyện Hải Hậu (tỉnh Nam Định) giúp huy động hơn 1.500 tỷ đồng xây dựng nông thôn mới cho thấy Quỳnh Nhai cần tận dụng tốt hơn 10.527 ha mặt nước lòng hồ và 39.705,60 ha đất có rừng (độ che phủ rừng 37,60%) để bứt phá.

Các phát hiện của nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ hình cột so sánh cơ cấu thu nhập nông nghiệp và phi nông nghiệp giữa 3 xã khảo sát, kết hợp bảng cân đối thu - chi sản xuất theo từng nhóm hộ để làm rõ tỷ suất lợi nhuận trên chi phí đầu tư.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và tiềm năng địa phương, tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao thu nhập cho người dân huyện Quỳnh Nhai:

  • Đa dạng hóa sinh kế và khai thác tối đa lợi thế kinh tế lòng hồ: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất dốc, duy trì 1.222 ha cây ăn quả hiện có và mở rộng diện tích trồng mới theo hướng chuyên canh chất lượng cao. Phát triển nghề nuôi cá lồng trên diện tích 10.527 ha mặt nước hồ thủy điện, phấn đấu đưa sản lượng thủy sản nuôi vượt mốc 2.000 tấn/năm. Đơn vị thực hiện: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp UBND các xã; lộ trình thực hiện: 2021 - 2025.
  • Củng cố liên kết sản xuất và phát triển kinh tế tập thể: Nâng cao năng lực hoạt động của 57 hợp tác xã nông nghiệp hiện có; thu hút thêm ít nhất 5 doanh nghiệp chế biến nông, thủy sản đầu tư vào địa bàn; xây dựng các chuỗi liên kết giá trị gắn với Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), hướng tới mục tiêu nâng thu nhập bình quân đầu người toàn huyện đạt trên 36 triệu đồng/năm vào năm 2025. Đơn vị thực hiện: Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Liên minh Hợp tác xã tỉnh; lộ trình: 2021 - 2024.
  • Đẩy mạnh đào tạo nghề nông thôn và chuyển giao công nghệ: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật nuôi cá lồng, kỹ thuật chăm sóc cây ăn quả trên đất dốc và quản trị kinh doanh hộ gia đình; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 23% lên tối thiểu 40% vào năm 2025; hỗ trợ chuyển dịch lao động sang lĩnh vực dịch vụ du lịch lòng hồ với mục tiêu đón trên 150.000 lượt khách/năm. Đơn vị thực hiện: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện; thực hiện liên tục hàng năm.
  • Hoàn thiện kết cấu hạ tầng và cơ chế tín dụng ưu đãi: Lồng ghép nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Đề án ổn định dân cư vùng tái định cư thủy điện Sơn La để kiên cố hóa hệ thống giao thông nông thôn và kênh mương thủy lợi. Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp mở rộng hạn mức cho vay không cần tài sản thế chấp đối với các hộ tham gia chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp sạch. Đơn vị thực hiện: UBND huyện Quỳnh Nhai và hệ thống tổ chức tín dụng trên địa bàn; lộ trình: 2021 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý nhà nước và ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp huyện, xã: Nghiên cứu cung cấp khung phương pháp đánh giá thực trạng thu nhập và bộ dữ liệu chi tiết về 11 xã, hỗ trợ công tác xây dựng kế hoạch hành động hoàn thành Tiêu chí số 10 về thu nhập và Tiêu chí số 13 về tổ chức sản xuất nông nghiệp.
  • Ban quản trị các hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp: Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về 57 hợp tác xã, đặc thù 3 tiểu vùng sinh thái và các phân tích chuỗi cung ứng thủy sản, giúp các đơn vị định hình chiến lược đầu tư liên kết bao tiêu nông sản.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp: Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp lý thuyết kinh tế nông hộ với thực tiễn vùng tái định cư thủy điện miền núi Tây Bắc.
  • Các tổ chức phát triển và tổ chức phi chính phủ: Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về tỷ lệ hộ nghèo và nhu cầu sinh kế tại các xã khu vực III như Chiềng Khay để thiết kế các dự án tài trợ phát triển cộng đồng và giảm nghèo bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến thu nhập bình quân đầu người tại huyện Quỳnh Nhai còn khoảng cách lớn so với chuẩn nông thôn mới là gì? Nguyên nhân chủ yếu do xuất phát điểm kinh tế thấp, diện tích đất canh tác bị thu hẹp sau khi tích nước hồ thủy điện Sơn La và địa hình đồi núi dốc đứng. Tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm tới 80,10% trong khi tỷ lệ qua đào tạo chỉ đạt 23%, dẫn đến năng suất lao động và giá trị gia tăng của nông sản chưa cao.

Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp chọn mẫu như thế nào để đảm bảo tính đại diện cho huyện Quỳnh Nhai? Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích với quy mô 90 hộ gia đình tại 3 xã đại diện cho 3 vùng sinh thái: xã Mường Giàng (vùng Quốc lộ 6B, chuẩn nông thôn mới), xã Chiềng Ơn (vùng lòng hồ thủy điện, xã khu vực II) và xã Chiềng Khay (vùng núi cao, xã khu vực III tỷ lệ nghèo 37%).

Mô hình sinh kế nào được đánh giá là tiềm năng nhất để bứt phá thu nhập cho cư dân Quỳnh Nhai? Nuôi trồng thủy sản lồng bè trên diện tích hơn 10.527 ha mặt nước hồ thủy điện Sơn La kết hợp phát triển du lịch sinh thái lòng hồ và chuyển đổi đất dốc sang trồng cây ăn quả chất lượng cao (hiện có 1.222 ha) là hướng đi tạo đột phá thu nhập lớn nhất.

Bài học kinh nghiệm từ huyện Hải Hậu và huyện Xuân Lộc được vận dụng ra sao trong nghiên cứu này? Luận văn đúc kết bài học về việc quy hoạch vùng sản xuất tập trung công nghệ cao từ Xuân Lộc (đạt 115,5 triệu đồng/ha) và bài học về huy động sức dân trong dồn điền đổi thửa, phát triển ngành nghề nông thôn từ Hải Hậu để áp dụng linh hoạt vào điều kiện địa hình miền núi Quỳnh Nhai.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn thạc sĩ này là gì? Luận văn đã lượng hóa chi tiết mức thu nhập bình quân 63,97 triệu đồng/hộ/năm và 14,16 triệu đồng/khẩu/năm tại vùng tái định cư Quỳnh Nhai, đồng thời xây dựng hệ thống 8 nhóm giải pháp đồng bộ gắn lý thuyết kinh tế nông hộ với mục tiêu hoàn thành Tiêu chí số 10 về nông thôn mới.

Kết luận

  • Luận văn phản ánh toàn diện thực trạng thu nhập của người dân khu vực nông thôn huyện Quỳnh Nhai với mức thu nhập bình quân đạt 14,16 triệu đồng/khẩu/năm và tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 16,8% năm 2019.
  • Nghiên cứu làm sáng tỏ hệ thống 5 nhóm nhân tố chính tác động đến thu nhập hộ nông dân gồm: trình độ lao động, quy mô đất đai, nguồn vốn sản xuất, điều kiện tự nhiên miền núi và chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế vùng lòng hồ.
  • Công trình đóng góp hệ thống cơ sở dữ liệu thực chứng từ 90 hộ gia đình và 16 cán bộ chuyên trách tại 3 tiểu vùng sinh thái đại diện cho khu vực tái định cư thủy điện.
  • Tác giả đề xuất 8 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, trọng tâm là khai thác tiềm năng nuôi cá lồng trên 10.527 ha mặt nước hồ thủy điện và phát triển 1.222 ha cây ăn quả chất lượng cao.
  • Mục tiêu dài hạn của công trình là cung cấp lộ trình khoa học giai đoạn 2021 - 2025 giúp địa phương nâng cao thu nhập bình quân đầu người đạt chuẩn nông thôn mới từ 36 triệu đồng/người/năm trở lên.

Bạn đọc, các nhà nghiên cứu và cán bộ hoạch định chính sách có thể tham khảo toàn văn luận văn để ứng dụng trực tiếp các mô hình sinh kế và phương pháp tính toán kinh tế nông hộ vào thực tiễn địa phương.