Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động 1. Khái niệm, đặc điểm xuất khẩu lao động 1. Khái niệm xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động là một hiện tượng kinh tế - xã hội chính thức xuất hiện từ cuối thế kỷ 19.
Trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, xuất khẩu lao động trở nên rất phổ biến và trở thành xu thế chung của thế giới. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về định nghĩa xuất khẩu lao động. Nếu như trước đây với thuật ngữ "hợp tác quốc tế lao động", XKLĐ được hiểu là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia thông qua các hiệp định được thoả thuận và ký kết giữa các quốc gia đó hay là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách hợp pháp và có tổ chức. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO, 1991) thì “XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định được sự thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận người lao động”.
Trong hành vi trao đổi này, nước đưa lao động đi được coi là nước XKLĐ, còn nước tiếp nhận sử dụng lao động thì được coi là nước nhập khẩu lao động. Ngày nay, với cách sử dụng thống nhất thuật ngữ XKLĐ để nhấn mạnh hơn đến tính hiệu quả kinh tế của hoạt động này, từ các khái niệm trên có thể hiểu: XKLĐ là sự di chuyển lao động quốc tế có thời hạn, có tổ chức, vì mục đích kinh tế, được pháp luật cho phép, dưới sự quản lý và hỗ trợ của nhà nước. Về nghĩa hẹp XKLĐ thực hiện chương trình an sinh xã hội về vấn đề lao động, giải quyết việc làm cho người dân ở một quốc gia [2]. Về nghĩa rộng, XKLĐ thực hiện chương trình hợp tác quốc tế giữa các quốc gia góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa trên lĩnh vực lao động [2].
6 Xét theo hướng tiếp cận của nội dung nghiên cứu này, khái niệm xuất khẩu lao động có thể được khái quát như sau: Xuất khẩu lao động là hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Xuất khẩu lao động có tổ chức, hợp pháp thông qua các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động. Đặc điểm của xuất khẩu lao động - XKLĐ là một hoạt động đặc thù thuộc lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế. Tính đặc thù này được thể hiện XKLĐ là một hoạt động nhằm mục đích kinh tế nhưng mang tính xã hội sâu sắc trong quan hệ với nước ngoài.
Là một hoạt động kinh tế, ở nhiều nước, XKLĐ đã trở thành một giải pháp để giải quyết việc làm cho lực lượng lao động ngày càng tăng, tích lũy tư bản từ nguồn tiền chuyển về nước của người lao động đi XKLĐ và các khoản thu khác từ hoạt động này. Những lợi ích kinh tế này buộc nước XKLĐ phải nỗ lực để có thể chiếm được thị phần XKLĐ cao nhất. Chính vì vậy, nước XKLĐ phải tính toán sao cho bù đắp được chi phí trong XKLĐ và thu được các lợi ích kinh tế cho các chủ thể tham gia, vì vậy phải có cơ chế thích hợp để tăng tối đa khả năng cung lao động. Mục tiêu kinh tế luôn được chú trọng trong XKLĐ, do đó, mọi chủ trương, chính sách, các biện pháp quản lý, điều tiết của nhà nước về XKLĐ đều bám sát đặc điểm này, định hướng và bảo đảm cho XKLĐ đạt được mục tiêu về lợi ích kinh tế.
Tính chất xã hội của XKLĐ bắt nguồn từ tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động. Sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra sử dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó [6]. Vì vậy, xét cả về số lượng và chất lượng, hàng hóa sức lao động phụ thuộc hoàn toàn vào bản thân người mang loại hàng hóa này. Hơn nữa, sức lao động còn bao hàm các yếu tố về lịch sử và tinh thần [6], nên hàng hóa sức lao động có một đặc tính xã hội riêng có.
Người lao động có khả năng tư duy và tự làm chủ 7 bản thân, mang trong mình các đặc điểm về đạo đức, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán… của một quốc gia, dân tộc, chúng di chuyển cùng người LĐXK. Vì thế, các chính sách điều tiết XKLĐ đều phải kết hợp với các chính sách xã hội khác, nhất là phải đảm bảo được quyền lợi của người lao động, trong các hiệp định hợp tác lao động, hợp đồng XKLĐ cũng phải có những điều khoản đề cập đến đời sống chính trị, tinh thần, văn hóa, sinh hoạt của người lao động như vấn đề thăm thân, tham gia các hoạt động văn hóa, lễ hội, sinh hoạt tập thể. XKLĐ luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của nhà nước - với tư cách là một chủ thể tham gia vào quá trình này. Nhà nước tham gia vào XKLĐ bằng cách xây dựng các khuôn khổ pháp lý cho XKLĐ để bảo đảm các lợi ích quốc gia, quyền lợi của các tổ chức, doanh nghiệp, người lao động tham gia XKLĐ, duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với các nước NKLĐ,.
Trong những trường hợp cần thiết, nhà nước phải trực tiếp giải quyết các vấn đề mà bản thân các tổ chức, doanh nghiệp XKLĐ không thể đảm đương được như bảo vệ người lao động ở nước ngoài, đàm phán ký kết các hiệp định chính phủ về hợp tác lao động với nước ngoài, ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến người lao động, giải quyết các vấn đề tiêu cực trong XKLĐ như lao động vi phạm pháp luật ở nước NKLĐ, lừa đảo trong XKLĐ,. - XKLĐ là một hoạt động xuất khẩu dịch vụ đặc thù. Đặc điểm này được thể hiện qua tính chất vô hình không thể chia cắt và tính chất không xác định trong XKLĐ. Tính chất vô hình, không thể chia cắt: hoạt động dịch vụ thông thường có đặc điểm không hiện hữu, không tồn tại dưới dạng vật thể, không thể sờ mó, tiếp xúc hay nhìn thấy được khi ra quyết định sử dụng.
Đối với XKLĐ, yếu tố không hiện hữu thể hiện ở chỗ, XKLĐ không chấm dứt khi đã hoàn thành thủ tục đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, nó kéo dài từ khi đưa người lao động đi XKLĐ, giúp người lao động thích nghi với công việc ở 8 nước ngoài cho đến khi người lao động về nước. Các bên liên quan đến XKLĐ có quyền lợi và nghĩa vụ trong suốt thời hạn của hợp đồng, đồng thời, phải thường xuyên có những hành động để thực hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng, hoặc cả trường hợp không quy định trong hợp đồng nhưng có liên quan đến quyền lợi của người lao động, người cung ứng lao động và người sử dụng lao động [9]. Tính chất không xác định: dịch vụ có tính không đồng nhất, sản phẩm dịch vụ phi tiêu chuẩn hóa, chất lượng thường không xác định bởi các dịch vụ phụ thuộc vào người cung cấp chúng. Tính chất không xác định trong XKLĐ được quy định bởi chất lượng hàng hóa sức lao động.
Chất lượng của hàng hóa sức lao động được phản ánh và phụ thuộc vào nguồn lực thể chất và tinh thần của người lao động, hay là khả năng dẻo dai, bền bỉ trong lao động, khả năng thành thạo và sáng tạo của người lao động cũng như điều kiện làm việc, sinh hoạt nghỉ ngơi, các hoạt động văn hóa… cho người lao động. Tuy nhiên, các yếu tố này ở mỗi người, ở mỗi địa phương, khu vực là khác nhau, có thể thay đổi làm cho chất lượng hàng hóa sức lao động thay đổi theo, không ổn định, do đó tạo ra tính chất không xác định trong XKLĐ. - XKLĐ có cách tính giá cả hàng hóa xuất khẩu khác biệt. Hàng hóa xuất khẩu trong XKLĐ là sức lao động, giá cả hàng hóa sức LĐXK là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động của người LĐXK và được xác định trên thị trường lao động.
Giá trị của hàng hóa sức lao động được xác định gồm: giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì sự sống và đảm bảo tái sản xuất sức lao động của bản thân người lao động, để nuôi sống gia đình, con cái của người lao động và các chi phí đào tạo nghề nghiệp, kỹ năng lao động, các chi phí để thỏa mãn các nhu cầu văn hóa tinh thần của người lao động [11]. Do đó, ngoài vấn đề phải đảm bảo được sức cạnh tranh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc tính toán giá cả hàng hóa trong XK LĐ phải tính đúng và tính đủ các yếu tố hình thành giá trị hàng hóa sức 9 lao động, phải tính toán trong điều kiện từng thị trường cụ thể, nơi diễn ra việc trao đổi sức lao động vì mỗi thị trường có chi phí và điều kiện sinh hoạt khác nhau.Mác đã chỉ ra "những nhu cầu thiết yếu, cũng như phương thức thỏa mãn những nhu cầu đó. phụ thuộc phần lớn vào trình độ văn minh của mỗi nước, ngoài ra còn phụ thuộc rất nhiều vào những thói quen và những nhu cầu sinh hoạt" [11]. - Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động tự chịu trách nhiệm của tổ chức xuất khẩu lao động.
Nếu như trước đây (giai đoạn 1980 - 1990) Việt Nam tham gia thị trường lao động, về cơ bản Nhà nước vừa quản lý nhà nước nói chung, vừa quản lý về hợp tác lao động với nước ngoài, Nhà nước làm thay cho các tổ chức kinh tế về hoạt động XKLĐ. Ngày nay, trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế thì hầu như toàn bộ hoạt động XKLĐ đều do các tổ chức XKLĐ tự thực hiện trên cơ sở pháp luật và hợp đồng đã ký kết. Đồng thời, các tổ chức XKLĐ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hiệu quả kinh tế trong hoạt động XKLĐ của mình. Như vậy, các hiệp định hay các thoả thuận song phương mà Chính phủ ký kết chỉ mang tính nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm của Nhà nước ở tầm vĩ mô.
- XKLĐ phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho ba chủ thể tham gia. XKLĐ, ngoài sự tham gia của Nhà nước và doanh nghiệp XKLĐ, còn có sự tham gia trực tiếp của người lao động.