Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng cà phê sang thị trƣờng EU Chương 3: Phân tích thực trạng xuất khẩu cà các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng cà phê sang thị trƣờng EU của CTCP cà phê Detech Chương 4: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng cà phê sang thị trƣờng EU của CTCP cà phê Detech 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÖC ĐẨY XUẤT KHẨU VÀ GIẢI PHÁP THÖC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA.1 Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2.1 Khái niệm về xuất khẩu Xuất khẩu hàng hóa là một hình thức cơ bản của hoạt động thƣơng mại quốc tế. Khái niệm về xuất khẩu nói chung cũng đã đƣợc đề cập đến trong rất nhiều bài viết, mỗi bài lại có một góc nhìn riêng. Cụ thể: Theo Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Theo Feenstra and Taylor (2010), tác giả đƣa ra một định nghĩa về xuất khẩu đƣợc trích dẫn trong giáo trình Thƣơng mại quốc tế đó là “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau.
Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”. Nhƣ vậy có thể hiểu một cách đơn giản, xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với các quốc gia khác trên thế giới thông qua hành vi mua bán. Wild (2003), tác giả đã nêu quan điểm trong cuốn sách “International Business – The challenges of globalization” rằng “hành động đưa hàng hóa từ quốc gia này sang quốc gia khác thì được coi như là xuất khẩu hàng hóa." Nhƣ vậy, nói một cách khái quát thì xuất khẩu hàng hóa là hàng hóa đƣợc sản xuất ở một quốc gia và bán ra cho một quốc gia khác. Nó là những hoạt động cụ thể trong trao đổi, bán hàng của các chủ thể kinh tế trong nƣớc với các đối tác nƣớc ngoài.
Mục đích của hoạt động này chính là khai thác đƣợc điểm mạnh của từng quốc gia trong vấn đề phân công lao động quốc tế, giúp quốc gia tận dụng đƣợc hết các đặc điểm về lợi thế cạnh tranh của mình. Nếu các quốc gia đều đƣợc hƣởng lợi thì họ sẽ tích cực tham gia và mở rộng hoạt động sản xuất xuất khẩu. Ngày nay có thể thấy hoạt động xuất khẩu diễn ra trên hầu hết mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế. Nó diễn ra trên mọi phạm vi cả về không gian lẫn thời gian, có thể chỉ diễn ra trong thời gian 8 ngắn và cũng có thể diễn ra trong kéo dài hàng năm.
Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia liên quan.2 Vai trò của xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh tế quan trọng trong quan hệ kinh tế đối ngoại, là một động lực thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Bên cạnh đó xuất khẩu cũng là một trong những chiến lƣợc để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch phát triển, mở rộng thị trƣờng của mình, đem lại những lợi ích cho doanh nghiệp. Trong cuốn giáo trình “Kinh tế ngoại thương” của GS.TS Bùi Xuân Lƣu và PGS.TS Nguyễn Hữu Khải (2006) thuộc Trƣờng đại học Ngoại Thƣơng có nêu ra các vai trò của hoạt động xuất khẩu. Có thể phân tách thành hai nhóm vai trò chính dƣới đây: 2.1 Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc gia Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn ngoại tệ quan trọng cho nhập khẩu, tích lũy phát triển sản xuất phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc.
Đối với những nƣớc đang phát triển, xuất khẩu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tăng trƣởng kinh tế, đem lại nguồn thu, khắc phục tình trạng lạc hậu, chậm phát triển. Giúp cải thiện cán cân thanh toán theo chiều hƣớng có lợi cho xuất khẩu. Thứ hai, xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Dƣới sự thúc đẩy của xuất khẩu, các quốc gia có lợi thế sản xuất sẽ chuyên môn hóa sản xuất về cả chất và lƣợng, tập trung sản xuất và cung cấp sản phẩm trên quy mô lớn.
Điều này dẫn đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp, mang lại nhiều lợi ích kinh tế hơn thay vì chỉ tập trung vào nông nghiệp. Bên cạnh đó, xuất khẩu cũng khuyến khích sự phát triển của các ngành sản xuất có liên quan, tạo thành một mắt xích sản xuất khổng lồ. Thứ ba, xuất khẩu gia tăng sẽ giải quyết công ăn việc làm cho ngƣời lao động, tạo thu nhập, cải thiện đời sống và nâng cao mức sống của ngƣời dân. Hoạt động xuất khẩu sẽ thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có mức thu nhập ổn định giúp họ tự cải thiện cuộc sống, từ đó gia tăng nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc, thúc đẩy kinh tế đất nƣớc phát triển.
Thứ tư, xuất khẩu tạo thị trƣờng tiêu thụ, mở ra nhiều cơ hội tiếp cận với đa dạng tập khách hàng. Xuất khẩu đem lại nhiều lợi ích cho tất cả các quốc gia tham gia vào 9 hoạt động này. Xuất khẩu đồng thời mở ra vòng đời mới cho sản phẩm, giúp các quốc gia vẫn có thể duy trì và tận dụng lợi thế cạnh tranh của mình trong việc tạo ra sản phẩm ƣu thế mà không sợ bão hòa trên thị trƣờng. Thứ năm, xuất khẩu giúp mở rộng và thúc đẩy các quan hệ đối ngoại của đất nƣớc.
Hoạt động xuất khẩu và đối ngoại có mối quan hệ qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là tiền đề, xây dựng và thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các quốc gia lại với nhau. Ngƣợc lại, các hoạt động đối ngoại sẽ tạo ra động lực để thúc đẩy không chỉ trong mỗi lĩnh vực xuất khẩu mà còn sang cả các lĩnh vực khác nhƣ văn hóa, giáo dục, y tế.Qua đó giúp thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hƣớng CNH - HĐH.2 Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp Thứ nhất, xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nƣớc thâm nhập thị trƣờng quốc tế. Doanh nghiệp có thể mở rộng tập khách hàng trên toàn thế giới, là cơ hội tốt để doanh nghiệp giới thiệu hình ảnh và thƣơng hiệu trên thị trƣờng quốc tế.
Doanh nghiệp có thể đa dạng hóa thị trƣờng đầu ra, giảm bớt rủi ro trong kinh doanh khi thị trƣờng suy thoái hoặc bão hòa. Bên cạnh đó, với mỗi quốc gia khác nhau sẽ có những đặc điểm và nhu cầu hàng hóa riêng biệt. Thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp có thể điều chỉnh thị trƣờng mục tiêu chính cần hƣớng tới để tối ƣu hóa kết quả kinh doanh. Thứ hai, doanh nghiệp có thể mang lại lợi ích cho xã hội nhiều hơn thông qua sản xuất hàng xuất khẩu do hoạt động này thu hút nhiều lao động tạo thu nhập ổn định, đồng thời tạo ra thu nhập để nhập khẩu vật tƣ, tƣ liệu sản xuất cũng nhƣ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngƣời dân.
Thứ ba, xuất khẩu giúp các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, không ngừng đổi mới công nghệ, thiết bị. Để giúp sản phẩm của doanh nghiệp mình tồn tại và phát triển trong môi trƣờng cạnh tranh quốc tế phụ thuộc rất lớn vào chất lƣợng và giá cả sản phẩm. Điều này liên quan mật thiết đến trang thiết bị sản xuất tại doanh nghiệp. Buộc DN phải không ngừng đổi mới và cải tiến theo chiều hƣớng tích cực, nhằm kịp thời nắm bắt và đáp ứng nhu cầu thị trƣờng.3 Các hình thức xuất khẩu 10 2.
Xuất khẩu trực tiếp Trong Kỹ thuật Kinh doanh Xuất Nhập khẩu của GS.TS Võ Thanh Thu (2011) có đề cập: “Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu, trong đó người bán (người sản xuất, người cung cấp) và người mua quan hệ trực tiếp với nhau (bằng cách gặp mặt, qua thư từ điện tín) để bàn bạc thỏa thuận về hàng hóa, giá cả và các điều kiện xuất khẩu khác”. Nhƣ vậy có thể thấy xuất khẩu trực tiếp là việc doanh nghiệp tự mình xuất khẩu hàng hóa của mình tới các khách hàng nƣớc ngoài. Trong loại hình xuất khẩu này, bên mua hàng và bên bán hàng sẽ trực tiếp thỏa thuận, ký kết hợp đồng ngoại thƣơng với nhau. Ưu điểm: Xuất khẩu trực tiếp giúp nhà xuất khẩu chủ động trong việc tìm kiếm nguồn khách hàng và trong việc tiêu thụ hàng hóa sản phẩm của mình.
Hai bên trực tiếp đàm phán giá cả và lựa chọn phƣơng thức thanh toán phù hợp từ đó giúp giảm các chi phí trung gian, gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nhược điểm: Khó tránh khỏi rủi ro và các sai sót, ảnh hƣởng tới toàn bộ lô hàng; Khối lƣợng hàng hoá khi tham gia giao dịch đảm bảo đủ lớn để bù đắp đƣợc chi phí trong việc giao dịch.2 Xuất khẩu gián tiếp (xuất khẩu ủy thác) Theo PGS.TS Doãn Kế Bôn trong Giáo Trình Quản trị tác nghiệp thƣơng mại quốc tế (Trƣờng Đại học Thƣơng mại):“Giao dịch qua trung gian là phương thức giao dịch trong đó mọi quá trình trao đổi giữa người mua và người bán (người bán và người mua có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau) để mua bán hàng hóa và dịch vụ đều phải thông qua người thứ ba gọi là các trung gian thương mại” Ưu điểm: Ngƣời trung gian trong xuất khẩu gián tiếp thƣờng là những ngƣời am hiểu thị trƣờng xâm nhập, pháp luật và tập quán buôn bán của địa phƣơng, họ có khả năng đẩy mạnh buôn bán và tránh bớt rủi ro cho ngƣời ủy thác. Bên cạnh đó, những ngƣời trung gian, nhất là các lý thƣờng có cơ sở vật chất nhất định, do đó khi sử dụng họ, ngƣời ủy thác đỡ phải đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tiêu thụ hàng. Cuối cùng ngƣời dịch vụ của trung gian trong việc lựa chọn phân loại, đóng gói, ngƣời ủy thác có thể giảm bớt chi phí vận tải.
11 Nhược điểm: Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu mất sự liên hệ trực tiếp với thị trƣờng. Công ty phải đáp ứng những yêu sách của đại lý và môi giới nên vốn hay bị bên nhận đại lý chiếm dụng và lợi nhuận bị chia sẻ.3 Gia công xuất khẩu Trong Giáo trình Quản trị tác nghiệp thƣơng mại quốc tế (2014) do PGS.