CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO KCN 1. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KCN 1. Khái niệm, đặc điểm, quy mô và loại hình KCN a. Khái niệm KCN “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định.
KCN thường được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và khung pháp lý riêng” [13]. Việc đầu tư kết cấu hạ tầng KCN được tiến hành theo nhiều mô hình khác nhau. Nhà nước bỏ vốn đầu tư đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng bên trong cũng như bên ngoài KCN rồi kêu gọi các nhà đầu tư thứ cấp vào thành lập cơ sở sản xuất. Cũng có quốc gia, nhà nước giao cho các DN đầu tư và kinh doanh kết cấu hạ tầng, nhà nước chỉ ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư kết cấu hạ tầng và ưu đãi đầu tư thứ cấp.
Mỗi mô hình đều có những ưu, nhược điểm khác nhau, nó thích hợp với hoàn cảnh, điều kiện của từng quốc gia trong từng thời điểm cụ thế. KCN là mô hình đã phát triển từ lâu song việc hình thành các KCN như là một công cụ để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với mục tiêu khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu thì mới phát triển trong vài thập niên gần đây. Nói chung, đây là hình thức tổ chức có cơ chế pháp lý đơn giản, rõ ràng và được quy định riêng trong các quy chế KCN, đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư. Theo quy định của Chính phủ tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về KCN thì khái niệm về KCN được hiểu như sau: “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” [8].
Đặc điểm KCN - KCN là một hình thức tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp gắn liền phát triển công nghiệp với xây dựng kết cấu hạ tầng và hình thành mạng lưới đô thị, phân bố dân cư hợp lý. Do đó, việc phân bố KCN phải bảo đảm những điều kiện: + Có khả năng cung cấp nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu tương đối thuận lợi, có cự ly vận tải thích hợp; + Thủ tục đơn giản, nhanh chóng đủ hấp dẫn các nhà đầu tư, quản lý và điều hành nhanh nhạy, ít đầu mối. + Có khả năng xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi, có đất để mở rộng và nếu có thể liên kết hình thành các cụm công nghiệp. Quy mô KCN tập trung và quy mô doanh nghiệp phải phù hợp với công nghệ gắn kết với kết cấu hạ tầng.
+ Có thị trường tiêu thụ sản phẩm. + Có khả năng đáp ứng nhu cầu lao động cả về số lượng lẫn chất lượng với chi phí tiền lưong thích hợp. - Là nơi hoạt động sản xuất của các DN công nghiệp (hàng tiêu dùng, hàng công nghiệp chế biến, hàng tư liệu sản xuất) và hệ thống doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và DN dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Các DN này sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật và xã hội theo một cơ chế tổ chức quản lý thống nhất của Ban quản lý KCN.
- Được sự quản lý trực tiếp của Chính phủ (từ quyết định thành lập, quy hoạch tổng thể, khung điều lệ mẫu, kiểm tra, kiểm soát. - Trong KCN có DN (công ty) phát triển hạ tầng KCN, có trách nhiệm đảm bảo hạ tầng kỹ thuật của cả KCN trong suốt thời gian tồn tại KCN. - Sản phẩm của KCN đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của thị trường nội địa. Nếu trong KCN tập trung có các DN chế xuất thì nhà đầu tư nước sở tại còn phải xem xét cả khả năng xuất khẩu [8], [13].
Quy mô và loại hình KCN Các KCN được hình thành theo các mục đích khác nhau với quy mô khác nhau: - KCN với mục tiêu di dời các cơ sở công nghiệp trong thành phố, đô thị thì có quy mô nhỏ hơn 100 ha; - KCN với mục tiêu tận dụng nguồn lao động và thế mạnh tại chỗ của địa phương thì quy mô KCN từ 100 ha; quy mô 50 - 100 ha là hợp lý đối với KCN nằm xa khu đô thị, xa cảng biển, tính chất hoạt động là tận dụng lao động; - Quy mô 300 - 500 ha đối với KCN đặt ở địa phương có cảng biển và nguồn nguyên liệu lớn hoặc hình thành với tính chất chuyên môn hóa sản xuất ổn định một số sản phẩm hàng hóa công nghiệp nặng. - KCN với mục tiêu kết hợp kinh tế với quốc phòng thì hình thành các KCN có quy mô từ 100 - 200 ha; - KCN phụ trợ (chuyên sản xuất các sản phẩm phụ trợ phục vụ các doanh nghiệp chính như ô tô, điện tử, đóng tàu, may mặc). - KCN xanh, sinh thái. Vai trò của KCN đối với phát triển kinh tế - xã hội - Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH.
- Tăng nhanh thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho mục tiêu phát triển. - Góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo thêm năng lực sản xuất mới, tạo nguồn hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. - Tạo điều kiện phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tránh tự phát, phân tán, tiết kiệm đất đai; tiết kiệm kinh phí đầu tư kết cấu hạ tầng và các dịch vụ KCN; nguồn nguyên liệu tại chỗ được sử dụng tối đa; làm giảm giá thành sản phẩm. - Thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ; hình thành các đô thị mới, thực hiện tiến bộ xã hội, giảm khoảng cách giữa các vùng nông thôn và thành thị.
Luan van 11 - Tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và học tập kinh nghiệm quản lý các công ty tư bản nước ngoài. - Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến các thủ tục xuất, nhập khẩu vật tư, hàng hoá cho sản xuất, thủ tục hải quan, thuế, tuyển dụng lao động theo cơ chế quản lý một cửa, tại chỗ” trong KCN. - Có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường. KCN là địa điểm tốt để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ nội thành, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.
- Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động: Đối với các nước nông nghiệp đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình CNH, nhu cầu việc làm rất lớn. Phát triển công nghiệp nói chung và các KCN nói riêng nhằm tạo ra nhiều việc làm, thu hút ngày càng nhiều lao động dư thừa ở khu vực nông nghiệp. - Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tay nghề cho người lao động: Người lao động được trực tiếp tiếp cận với công nghệ sản xuất hiện đại, phương thức quản trị kinh doanh tiên tiến và được đào tạo kỹ năng chuyên môn để đáp ứng yêu cầu công việc. Đối với Việt Nam, đào tạo nguồn nhân lực là một việc làm quan trọng vì lao động có chuyên môn và hàm lượng chất xám cao sẽ làm ra những sản phẩm có giá trị cao, đóng góp tích cực vào quá trình CNH, HĐH đất nước; đồng thời làm thay đổi cơ cấu lao động vốn chủ yếu là lao động nông nghiệp.
Trên thực tế, một số KCN đã thành lập các cơ sở, trường dạy nghề tại địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo và cung ứng lao động cho các KCN khác như Trường Cao đẳng nghề Chu Lai Trường Hải (Khu kinh tế mở Chu Lai), Trường Dạy nghề Dung Quất (KCN Dung Quất), Trung tâm Dạy nghề Việt Nam - Singapore (KCN Việt Nam - Singapore),.[7] - Góp phần ổn định đời sống của dân cư: Người lao động trong KCN thường xuyên có việc làm, thu nhập tăng và đời sống khá ổn định, giúp họ xoá đói giảm nghèo, giảm bớt các tệ nạn xã hội. NỘI DUNG, TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO KCN 1. Nội dung tăng cường thu hút vốn đầu tư vào KCN a. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN Nguyên tắc và tiêu chí hình thành các KCN trên các địa bàn là phân bố và hình thành các KCN phải đạt hiệu quả cao và bền vững xét trên cả phương diện kinh tế, xã hội, tự nhiên và môi trường.
Vì vậy phải quy hoạch các KCN và đảm bảo các nguyên tắc sau: - Có khả năng cung cấp nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu tương đối thuận tiện, có cự ly vận tải thích hợp cả nguyên liệu và sản phẩm. - Có khả năng đáp ứng nhu cầu về lao động với chi phí tiền lương thích hợp. - Có khả năng xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi, có hiệu quả, có đất để mở rộng và nếu có thể liên kết thành cụm các KCN. Quy mô KCN phải phù hợp với điều kiện kết cấu hạ tầng, khả năng thu hút đầu tư.
- Có thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước. - Sử dụng đất hợp lý, có dự trữ đất để phát triển ở những nơi có điều kiện. - Kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch phát triển các KCN với quy hoạch đô thị và phân bố dân cư. - Đảm bảo các điều kiện kết cấu hạ tầng cả trong và ngoài hàng rào; đồng thời sử dụng có hiệu quả đất để xây dựng các xí nghiệp KCN.
- Giải quyết tốt mâu thuẫn (nếu có) giữa nhu cầu, lợi ích (lợi nhuận) của nhà đầu tư với đảm bảo mục tiêu định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội và công nghiệp của Nhà nước, không bị gò ép bởi địa giới hành chính. - Đảm bảo kết hợp tốt giữa xây dựng KCN và yêu cầu quốc phòng - an ninh trong bố trí tổng thể và trên từng địa bàn đối với từng KCN. Khi đã có quy hoạch KCN, nhất thiết phải xây dựng kế hoạch phát triển các KCN, đảm bảo quy hoạch các KCN được thực hiện trong thực tế. Công tác xúc tiến đầu tư phát triển các KCN * Khái niệm xúc tiến đầu tư XTĐT là một công cụ nhằm để thu hút đầu tư.
Hoạt động XTĐT có vai trò quảng bá hình ảnh của một đất nước, một địa phương về môi trường đầu tư nhằm thu hút dòng vốn đầu tư vào địa bàn. Dòng vốn đầu tư không thể tự nhiên mà có vì các quốc gia trên thế giới vẫn tiếp tục tự do hóa, các tập đoàn lớn, các công ty xuyên quốc gia vẫn đang được thu hút về những nơi có môi trường tốt với những điều kiện thuận lợi.