CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Sự cần thiết của Bảo hiểm cháy nổ 1.1 Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm cháy nổ Hiện nay, các công ty, nhà xưởng ngày một hình thành nên rất nhiều, con người luôn phải đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn không lường trước được, khi xảy ra rủi ro thì việc giải quyết hậu quả vô cùng khó khăn, tốn kém. Chính vì thế, ngành bảo hiểm ra đời nhằm san sẻ những rủi ro trong xã hội, giúp cuộc sống ổn định cũng như giải quyết mọi trở ngại trong sản xuất kinh doanh khi rủi ro ập đến. Bảo hiểm cháy nổ, được triển khai từ năm 2007 đến nay trải qua gần 16 năm thực hiện, đóng góp đáng kể cho việc ổn định tài chính, mang lại sự yên tâm cho cơ quan, tổ chức và hộ gia đình có cơ sở nguy hiểm về cháy, nổ qua công tác giải quyết bồi thường của các doanh nghiệp bảo hiểm. Trong thời gian vừa qua, tại Việt Nam có rất nhiều vụ cháy diễn ra liên tiếp, gây hậu quả nghiêm trọng không chỉ cho đối tượng bị thiệt hại mà còn cả cộng đồng dân cư.
Trên thực tế, khi gặp sự cố cháy nổ, không phải cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cũng có điều kiện, năng lực tài chính để khắc phục thiệt hại, khôi phục hoặt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trở lại bình thường. Để khắc phục thiệt hại về tài chính, nhanh chóng khôi phục đầu tư, sản xuất kinh doanh thì các cơ quan, tổ chức cần phải mua bảo hiểm cháy nổ, phòng bị cho những rủi ro cần thiết. Bên cạnh đó nguồn kinh phí đóng góp từ các doanh nghiệp bảo hiểm hằng năm góp phần trong việc hỗ trợ trang bị phương tiện, thiết bị phòng cháy chữa cháy cho lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy và hình thức khác như hỗ trợ tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiến thức phòng cháy chữa cháy và bảo hiểm cháy nổ bắt buộc. Chính vì vậy, việc triển khai rộng rãi về nghiệp vụ bảo hiểm đến mọi nơi, mọi người dân, doanh nghiệp để có thể dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu nghiệp vụ này.
Đáp ứng tốt nhu cầu cần thiết của nền kinh tế xã hội.2 Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm cháy nổ bắt buộc Theo Luật kinh doanh bảo hiểm: “Bảo hiểm cháy nổ bắt buộc chỉ áp dụng đối với đối tượng nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội”. Theo quy định này thì chỉ những thiệt hại hậu quả cho lợi ích của người khác hoặc của xã hội mới thuộc phạm vi bảo hiểm cháy nổ bắt buộc. Do đó loại bảo hiểm này chủ yếu là bảo hiểm tài sản, tòa nhà. Hiện nay, Việt Nam đã ban hành nghị định 97/2021/NĐ-CP quy định các doanh nghiệp, cơ sở có nguy cơ cháy nổ bắt buộc tham gia bảo hiểm cháy.
Vì sao lại có quy định này trong khi đối tượng của bảo hiểm cháy nổ là tài sản riêng của một số cá nhân, đơn vị, và nếu họ không gây thiệt hại cho ai khác ngoài bản thân thì họ không phát sinh thêm trách nhiệm nào. Trên thực tế các nước chủ yếu áp 8 Lâm Thị Phương Thanh GVHD: Nguyễn Quỳnh Phương MSSV: 18040379 dụng bảo hiểm cháy nổ dưới dạng tự nguyện, nhưng đối với những cơ sở kinh tế trọng điểm, tập trung như nhà máy điện, lọc dầu,. thường áp dụng bảo hiểm cháy nổ bắt buộc. Bởi chẳng may gặp rủi ro và xảy ra sự kiện bảo hiểm sẽ ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế Việt Nam.
Do đó tham gia bảo hiểm cháy nổ như một hình thức đảm bảo an toàn xã hội vừa bảo vệ tài sản cá nhân, vừa mang lại sự cẩn thận trong việc phòng cháy chữa cháy. Hiện nay các quốc gia duy trì quy định bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại các khu vực Châu Á. Tại Việt Nam, tất cả các cơ sở được coi là có nguy cơ cháy nổ, như đã quy định theo Nghị định của Chính phủ về phòng cháy chữa cháy, đều là đối tượng tham gia bảo hiểm cháy nổ bắt buộc gồm các nhóm sau: - Bảo hiểm cho nhà máy điện, trạm biến áp - Bảo hiểm cho địa điểm công cộng, tập trung đông dân cư: trung tâm thương mại, chung cư, nhà ga, trung tâm hội nghị, nhà hát, nhà văn hóa, rạp chiếu phim; nhà thi đấu thể thao; sân vận động; vũ trường, cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí đông người sân Golf,… - Các làng trường đại học, trường cao đẳng, trường trung cấp, trường dạy nghề, trường phổ thông và trung tâm giáo dục. - Trụ sở cơ quan hành chính nhà nước; viện, trung tâm nghiên cứu, trụ sở làm việc của các cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức khác.
- Kho vật liệu, kho chế xuất, các kho liên quan đến ngành sản xuất điện, các nhà máy chế biến gỗ, sản xuất giấy, vải, chỉ cuộn, các nhà máy in ấn, sơn nước,… Đối tượng bảo hiểm không chỉ là những cơ sở có nguy cơ cháy nổ cao mà còn có khả năng gây thiệt hại mang tính thảm họa đối với xã hội. Chính từ những đặc điểm này đã giải thích phần nào về ý nghĩa của sự bắt buộc trong bảo hiểm cháy nổ. Do đó thực hiện bảo hiểm cháy nổ bắt buộc xuất phát từ mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn cho xã hội. Bởi vậy ngày nay với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, cơ sở kinh doanh, hơn nữa với tốc độ đô thị hóa cao cháy nổ sẽ là thảm họa chung của cả xã hội, đây cũng không còn là vấn đề riêng của mỗi cá nhân doanh nghiệp.2 Nôi dung của bảo hiểm cháy nổ 1.1 Đối tượng bảo hiểm Doanh nghiệp được bảo hiểm, cơ quan, tổ chức và cá nhân cơ sở có nguy hiểm về cháy nổ có nghĩa vụ thực hiện chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc theo quy định.
Chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc theo quy định là bảo hiểm tài sản đối với các rủi ro về cháy nổ của: 9 Lâm Thị Phương Thanh GVHD: Nguyễn Quỳnh Phương MSSV: 18040379 - Nhà máy, công trình kiến trúc. - Tòa nhà - Máy móc thiết bị - Hàng hóa, vật tư, tài sản khác. Những tài sản này chỉ thực sự bảo hiểm khi giá trị của chúng tính được thành tiền và được ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm. Bên cạnh đó Bộ quản lý tài chính cũng khuyến khích cơ quan, tổ chức và các cá nhân không thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm cháy nổ bắt buộc theo quy định mua bảo hiểm trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan.2 Phạm vi bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện trách nhiệm bồi thường bảo hiểm cho các thiệt hại xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm là nhà, công trình và các tài sản gắn liền với nhà máy, công trình; máy móc, thiết bị và các loại hàng hóa, vật tư (bao gồm cả nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm) phát sinh từ rủi ro cháy, nổ.
Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm: Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm trong các trường hợp sau: 1. Điều khoản loại trừ chiến tranh và nội chiến (LRMA G51 Sửa đổi) 2. Điều khoản loại trừ khủng bố (NMA 2921) 3. Điều khoản cấm vận thương mại quốc tế 4.
Điều khoản loại trừ Amiăng tổng hợp 5. Điều khoản loại trừ các khoản tiền bồi thường theo phán quyết của tòa mang tính trừng phạt (LGT 399) (1994) 6. Điều khoản loại trừ Rủi ro năng lượng hạt nhân (NMA 1975a) (1994) và SR 482 7. Điều khoản loại trừ rủi ro liên quan đến nhiễm phóng xạ 8.
Điều khoản loại trừ đường dây truyền tải và phân phối điện, thông tin liên lạc, vô tuyến viễn thông 9. Điều khoản Làm rõ thiệt hại tài sản 10. Điều khoản loại trừ rủi ro ô nhiễm và nhiễm bẩn 11. Điều khoản loại trừ bệnh truyền nhiễm LMA5394 10 Lâm Thị Phương Thanh GVHD: Nguyễn Quỳnh Phương MSSV: 18040379 12.
Loại trừ tổn thất mạng máy tính (LMA5240) 1.3 Số tiền bảo hiểm, giá trị bảo hiểm Số tiền bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tối thiểu là giá trị tính thành tiền theo giá trị thị trường của tài sản phải tham gia bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại thời điểm tham gia bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm phải liệt kê số tiền bảo hiểm theo danh mục tài sản được bảo hiểm và tính tổng số tiền bảo hiểm. Giá trị bảo hiểm sẽ được bên mua bảo hiểm cung cấp đúng giá trị thực tại theo thị trường thẩm định bao gồm cả Thuế GTGT.4 Phí bảo hiểm Phí bảo hiểm cháy nổ là mức phí bảo hiểm được tính trên 1 năm, trường hợp thời gian bảo hiểm khác 1 năm, phí bảo hiểm sẽ được tính tương ứng theo tỷ lệ của thời gian tham gia bảo hiểm. Tuy nhiên đối với các nghiệp vụ vượt phân cấp của đơn vị bảo hiểm cấp đơn, phí bảo hiểm sẽ được tham khảo từ ban lãnh đạo đến từ Tổng công ty bảo hiểm PVI.
Thế nên phí bảo hiểm sẽ không giống với phí bảo hiểm ba đầu mà người được bảo hiểm tham khảo trên ISO ONLINE của Bảo hiểm PVI 1.5 Giám định bồi thường Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiến hành giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất. Chi phí giám định tổn thất do doanh nghiệp bảo hiểm chi trả. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm không thống nhất về nguyên nhân và mức độ tổn thất thì có thể trưng cầu ý kiến từ giám định độc lập. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được việc trưng cầu giám định viên độc lập thì một trong các bên được yêu cầu tòa án nơi xảy ra tổn thất hoặc nơi khác chỉ định giám định viên độc lập.
Kết luận của giám định viên độc lập có giá trị bắt buộc đối với các bên.