MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Đây là một đề tài khảo sát về hiện tượng đảo ngữ trong tiếng Anh (ĐNTA) trên cả hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa, qua đó đối chiếu với tiếng Việt nhằm tìm ra các cách thê hiện tương ứng của đảo ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt dé thay được những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ. Về mặt lí luận, di chuyên thành tố trong câu là hiện tượng bình thường trong các ngôn ngữ. Điều này đã được sự xác nhận của nhiều nhà ngôn ngữ học [W.
Chafe 1976, Hoàng Trọng Phiến 1980, R. Quirk 1985, Phan Thiều 1988, Lưu Vân Lăng (dẫn theo lần xuất bản 1998), Nguyễn Minh Thuyết 1998, D. Tiếng Anh và tiếng Việt đều là những ngôn ngữ SVO, trong đó vi trí thuận của chủ ngữ là ở trước vi ngữ, vi trí điển hình của bổ ngữ là sau vị ngữ. Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hop chủ ngữ được đảo ra sau vi ngữ, b6 ngữ được dao lên vi trí đầu câu, v.
“Đảo ngữ” trong tiếng Anh, tức “inversion”, là một hiện tượng ngữ pháp dễ nhận diện và đã được một số nhà Anh ngữ học quan tâm nghiên cứu. Là một quá trình cú pháp làm thay đổi trật tự các thành tố trong câu nhưng không làm thay đổi các quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố đó, DNTA gan bó mật thiết với cau trúc câu. Đảo ngữ liên quan đến kha năng di chuyển của các thành tố trong câu, do đó tất yếu gan với sự khác biệt nao đó giữa các biến thê trật tự của câu: đó là sự khác biệt giữa một trật tự được cho là cơ bản, hay trật tự chuẩn, với những trật tự được hình thành nhờ vào hiện tượng đảo ngữ. Chắc hăn sự khác biệt về trật tự như vậy (với tư cách là “cái biểu đạt”) sẽ thé hiện những khác biệt về nội dung (với tư cách là “cái được biểu đạt”).
Đây chính là một hệ quả của nguyên lí về tính hình tuyến của cái biểu hiện mà F. Saussure đã nêu ra trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” [1955, tr. 126] khi bàn về bản chất của tín hiệu ngôn ngữ: “Vốn là vật nghe được, cai biểu hiện diễn ra trong thời gian và có những đặc điểm vốn là của thời gian: a) nó có một bê rộng, và b) bê rộng đó chỉ có thé do trên một chiều mà thôi: đó là một đường chỉ, một tuyến.” Như vậy, tính hình tuyến của tín hiệu ngôn ngữ khiến cho người nói/ viết không thé cùng một lúc tạo ra hai yêu tố trong câu nói hay câu viết của mình. Do đó, tính hình tuyến cũng có vai trò nhất định đối với việc lựa chọn một cấu trúc câu cũng như xuất phát điểm của câu.
Tiếng Anh là một ngôn ngữ thiên chủ ngữ (subject-prominent language) và có chủ ngữ ngữ pháp (grammatical subject) đứng ở vị trí đầu tiên trong mô hình cấu trúc cơ bản của câu đơn trần thuật với tư cách là dạng thức chuẩn của câu (the canonical form of the sentence). Nhìn chung, có hai cách phân tích câu đã được áp dụng rộng rãi trong ngữ pháp tiếng Anh, cụ thể là như sau: + Cách thứ nhất phân tích câu ra thành 5 thành phần bắt buộc: S (Subject), V (Verb), O (Object), C (Complement) va A (Adverbial); cách phân tích này cho kết quả là 7 mô hình co bản của câu được hình thành căn cứ vào khả năng kết hợp của các thành phần câu theo trật tự thông thường của chúng, đó là: SV, SVO, SVC, SVA, SVOO, SVOC, SVOA. + Cách thứ hai chia câu ra thành Chủ ngữ (Subject) va VỊ ngữ (Predicate), VỊ ngữ lại được chia nhỏ ra thành “Operator” (trợ động từ thứ nhất) và “Predication” (vị ngữ không ngôi). Cách phân tích thứ hai này đưa đến hai mô hình cơ bản: “Subject + Predicate” và “Subject + Operator + Predication”.
Hiện tượng đảo ngữ xuất hiện trong những biến thê (variation) của các mô hình cơ bản nêu trên, cụ thé là như sau: Nếu chủ ngữ đứng sau động từ thì sẽ có 5 mô hình: VS, OVS, AVS , CVS và “Predication + Be + Subject”. Nếu chủ ngữ đứng sau trợ động từ thì sẽ có 3 mô hình: “Operator + Subject + Predication”, “Pro-form + Operator + Subject” và “X + Operator + Subject + Y” (X: yếu tố đứng ở vi trí đầu câu; Y: phan còn lai của câu). Với những mô hình cấu trúc như vậy, các kiểu câu DNTA là bằng chứng cho thấy rằng thành tố tận cùng về bên trái (the left-most constituent) trong câu tiếng Anh không phải lúc nào cũng là chủ ngữ ngữ pháp (grammatical subject). Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần liệt kê các mô hình cấu trúc như đã nêu thì sẽ khó tránh khỏi nguy cơ sa vào chủ nghĩa hình thức.
Vậy những mô hình DNTA có thể được xem xét và tiếp cận như thế nào về mặt ngữ nghĩa? Dé chuyền tải nội dung của những câu ĐNTA, tiếng Việt sử dụng những cấu trúc gì và những phương tiện gì trong những câu dịch tương ứng? Việc đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi này chính là một trong những lí do chọn đề tài của chúng tôi. Từ góc độ lí luận, lời giải đáp cho những câu hỏi trên sẽ góp phần làm rõ những đặc trưng loại hình của tiếng Anh và tiếng Việt, trước hết, với tư cách là những ngôn ngữ phân tích tính và sau đó, cho thấy một số khác biệt mang tính nội bộ trong tổng thể những đặc điểm loại hình của hai ngôn ngữ, vốn khác biệt đáng ké so với những loại hình khác theo cách phân loại cổ điền. VỀ mặt thực tiễn, trong các sách ngữ pháp tiếng Anh hiện đang lưu hành tại Việt nam, kể cả các giáo trình ngữ pháp ở bậc đại học, chúng tôi nhận thấy răng hầu như chỉ có một sự liệt kê các trường hợp đảo ngữ mà ít có sự phân tích về ngữ nghĩa đối với loại câu này. Mặt khác, từ thực tiễn dạy học tiếng Anh, với tư cách là một giáo viên, chúng tôi nhận thấy rằng người học luôn luôn có nhu cầu muốn được lí giải cu thé về ban chất của DNTA dé có được những hướng dẫn đúng đắn liên quan đến việc sử dụng loại câu này.
Thiet nghĩ một công trình nghiên cứu vê cả hai bình diện câu trúc và ngữ nghĩa của DNTA sẽ góp phần mang lại cho người học một cái nhìn toàn diện hơn, thấu đáo hơn đối với van dé nay - van dé của những câu được gọi là “không cơ bản” (non-basic) và biểu thị sự “lệch chuẩn” (deviation from the norm) nhưng lại là một đặc trưng của ngữ pháp tiếng Anh. Đồng thời với việc trình bày một cách nhìn đối với ĐNTA về cả hai phương diện cấu trúc và ngữ nghĩa, chúng tôi tiến hành đối chiếu DNTA với tiếng Việt nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy ngoại ngữ trên cơ sở nhận biết những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ. Qua việc thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn góp phần giúp người Việt học tiếng Anh hiểu rõ bản chất của hiện tượng dao ngữ; nhờ đó, khi nói và viết, người học có thể sử dụng các mô hình câu đảo ngữ nhằm đa dạng hoá và làm phong phú thêm cách diễn đạt của mình. Điều này sẽ góp phần vào thành công của người học trong giao tiếp bằng tiếng Anh.
Doi tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được thể hiện một cách khái quát qua tên gọi của đề tài: “Khảo sát cấu trúc - ngữ nghĩa của hiện tượng đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt”. Trong tên gọi này, có ba điểm chúng tôi muốn làm sáng tỏ: a- “Cấu trúc” được hiểu là “sự sắp xếp có quy tắc của các đơn vị ngôn ngữ để tạo thành một tông thé có nghĩa” [Asher et al. Trong luận án này, các cấu trúc đảo ngữ được chúng tôi xem xét dưới dạng các mô hình cú pháp được trừu tượng hoá từ những câu cụ thể, với các thành phần bắt buộc theo quan niệm của đại đa số các nhà Anh ngữ học. Hiện tượng đảo ngữ không làm thay đổi chức năng ngữ pháp cũng như vai nghĩa của các thành phần bị đảo.
So với mô hình của câu có trật tự thuận tương ứng, mô hình câu đảo ngữ thể hiện sự khác biệt về trật tự sắp xếp các thành tố trong câu. b- “Ngữ nghĩa” của các câu đảo ngữ trong luận án này được chúng tôi hiểu không chỉ là nghĩa miêu tả hay nghĩa mệnh đề (descriptive meaning/propositional meaning) mà còn là nghĩa phi miêu tả hay nghĩa phi nội dung mệnh đề (non-descriptive meaning/non-propositional meaning). Đây là cách hiểu về ngữ nghĩa theo nghĩa rộng, dựa trên quan điểm của J. Theo quan điểm này, ngữ nghĩa được xem là đối tượng của “ngữ nghĩa học” hiểu theo nghĩa rộng, tức ngữ nghĩa học mà trong đó bao hàm cả những nội dung của ngữ dụng học.
Đỗ Hữu Châu, trong cuốn sách “Đại cương ngôn ngữ học”, tập hai [2003, tr. 45], đã nêu rõ: “Ngữ nghĩa học hiểu theo nghĩa rộng có đối tượng là ngữ nghĩa nói chung, bao gồm cả ngữ nghĩa bị quy định bởi tính đúng - sai lôgic và ngữ nghĩa không bị quy định bởi tính đúng - sai lôgIc”. Khi khảo sát ngữ nghĩa của đảo ngữ, luận án đặt trọng tâm nghiên cứu vào phần nghĩa phi miêu tả hay nghĩa phi nội dung mệnh đề, được giới hạn và cụ thể hoá trong ba chức năng của đảo ngữ, đó là: chức năng giới thiệu thực thé trong diễn ngôn, chức năng nhắn mạnh và chức năng liên kết. “Hiện tượng đảo ngữ” trong luận án nay có nội ham của thuật ngữ “inversion” của ngữ pháp tiếng Anh.
Bản thân thuật ngữ “đảo ngữ” được sử dụng trong luận án này chỉ là một cách gọi theo thói quen khi chuyển dịch thuật ngữ “inversion” sang tiếng Việt. Vì vậy, cách hiểu của chúng tôi đối với hiện tượng đảo ngữ không căn cứ vào cách chiết tự, chăng hạn như “đảo” tức là “đôi ngược vị trí” ra trước hoặc sau đối với các yếu tố theo trật tự hình tuyến và “ngữ” là “cụm từ” có tư cách của một thành phân câu. Đôi tượng nghiên cứu của luận án là loại câu trân thuật tiêng Anh có trật tự đảo. Đối tượng này được chúng tôi xác định dựa vào định nghĩa của Green [1982, tr.
120]: đảo ngữ là “những cấu trúc câu trần thuật mà trong đó chủ ngữ theo sau một phân hoặc toàn bộ các yêu tô của động ngữ”. Định nghĩa này cũng chính là điểm xuất phát của nhiều công trình trực tiếp hoặc gián tiếp có liên quan đến đảo ngữ trong tiếng Anh hiện đại.