CHƯƠNG 1: QUẢN LÝ THU – CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1. Tổng quan về Ngân sách Nhà nước 1. Bản chất và khái niệm của Ngân sách Nhà nước 1. Bản chất của Ngân sách Nhà nước Về cơ bản, bản chất của Ngân sách Nhà nước có thể được hiểu trên 3 khía cạnh là: Pháp lí, kinh tế và xã hội.
- Về mặt pháp lí: Bản chất ngân sách nhà nước là khoản mục về dự trù các khoản thu, các khoản chi của nhà nước trong 1 năm. Sự xuất hiện của Nhà nước kéo theo đó là sự ra đời của Ngân sách Nhà nước. Để có thể đảm bảo được việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước với quyền lực chính trị đã đề ra các khoản mục thu và chi dành cho Ngân sách Nhà nước. Chính những điều này đã cho thấy được sự tồn tại của Nhà nước, vai trò của Nhà nước trogn đời sống kinh tế xã hội chính là những yếu tố cơ bản quyết định đến sự tồn tại và tính chất hoạt động của Ngân sách Nhà nước.
- Về mặt kinh tế: Bản chất của Ngân sách Nhà nước chính là hoạt động phân phối các nguồn tài chính quốc gia.Hoạt động của Ngân sách Nhà nước biểu hiện rất đa dạng, cụ thể là dưới hình thức các khoản thu và các khoản chi tài chính của Nhà nước ở tất cả các lĩnh vực về hoạt động kinh tế xã hội. Các khoản thu và chi này sẽ được tổng hợp trong một bảng dự toán thu chi tài chính được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Tính chất bắt buộc ở một số khoản thu trong Ngân sách Nhà nước là một bộ phận các nguồn tài chính chủ yếu đang được tạo ra thông qua việc phân phối nguồn thu nhập quốc dân được sáng tạo ra trong các khu vực sản xuất kinh doanh và các khoản chi chủ yếu của Ngân sách thì mang tính chất cấp phát phục vụ cho đầu tư phát triển và tiêu dùng của xã hội. - Về tính chất xã hội: Bản chất của Ngân sách Nhà nước chính là công cụ kinh tế của Nhà nước.
Chính trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội đã làm nảy sinh các quan hệ tài chính giữa một bên là Nhà nước và một 4 bên là các chủ thể trong xã hội. Những quan hệ tài chính này bao gồm: Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp; Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các đơn vị hành chính sự nghiệp; Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư; Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính. Khái niệm về Ngân sách Nhà nước Ngân sách Nhà nước là dự toán hàng năm về toàn bộ các nguồn tài chính được huy động cho Nhà nước và Nhà nước sẽ sử dụng các nguồn tài chính đó với mục đích nhằm bảo đảm thực hiện được chức năng của Nhà nước do hiến pháp quy định. Đó chính là nguồn tài chính tập trung quan trọng nhất trong hệ thống tài chính quốc gia.
Ngân sách Nhà nước cũng chính là tiềm lực tài chính, thể hiện sức mạnh về mặt tài chính của Nhà nước đó. Công tác liên quan quản lý và điều hành Ngân sách Nhà nước có tác động chi phối trực tiếp đến tất cả các hoạt động khác trong nền kinh tế. Theo luật ngân sách của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành vào ngày 30/6/1996 có ghi rõ: “ Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm, để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Trong Ngân sách Nhà nước bao gồm nhiều khoản thu, kể đến như: các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi, được đưa vào cân đối ngân sách Nhà nước và bao gồm các khoản chi: chi phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, bảo đảm hoạt động bộ máy Nhà nước, chi trả của Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Vai trò của Ngân sách Nhà nước 1. Vai trò huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Từ chính bản chất thực sự của Ngân sách nhà nước đã nảy sinh ra vai trò này. Trên thực tế, vai trò trên nhằm để đảm bảo cho hoạt động của nhà nước 5 trong các mặt như xã hội, kinh tế, chính trị. Yêu cầu đặt ra cần phải có những nguồn tài chính nhất định.
Cơ sở để hình thành và nuôi dưỡng cho các nguồn tài chính này là từ thuế cùng tất cả các khoản thu khác ngoài thuế. Ngân sách nhà nước phải được thực hiện trong bất kể giai đoạn lịch sử nào, cũng như trong bất kì mọi chế độ xã hội hay mọi cơ chế kinh tế. Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát Đặc trưng tiêu biểu của cơ chế kinh tế thị trường giai đoạn hiện hành là việc các doanh nghiệp cạnh tranh lẫn nhau hướng tới vì mục tiêu tối đa lợi nhuận. Cùng với đó, thị trường vận hành dựa trên những tín hiệu thị trường như cung cầu, giá cả.
Sự dịch chuyển vốn giữa các doanh nghiệp hay các địa phương với nhau có thể đến từ sự mất cân đối cung cầu. Việc cung cầu không có sự cân xứng làm giá cả tăng đột biến hoặc giảm bất ngờ tạo ra “rung lắc” thị trường, ảnh hưởng trực tiếp tới dòng vốn. Nên để đảm bảo được lợi ích cho các nhà sản xuất cũng như cho người tiêu dung. Khi đó, Nhà nước tham gia can thiệp vào thị trường bằng một số công cụ kinh tế, tiêu biểu như thuế, trợ cấp, quỹ dự trữ phát triển, quỹ bình ổn giá,.
Để thực hiện việc này nhà nước cần một quỹ tiền tệ tập trung – là Ngân sách nhà nước. Quá trình điều tiết thị trường còn chính phủ cần có các công cụ tài chính như phát hành trái phiếu của mình, tham gia thị trường vốn, kêu gọi viện trợ nước ngoài,… 3. Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất Thuế cùng với các chính sách là công cụ để định hướng sản xuất, tiêu dùng và đẩy mạnh tăng trưởng. Thuế tạo nguồn nguồn thu ngân sách để thực hiện các chức năng của nhà nước.
Mặt khác, các mức thuế của sắc thuế khác nhau sẽ được dùng cho từng trường hợp cụ thể nhằm mục đích kích thích sự phát triển của sản xuất, tiêu dùng cũng như tạo ra môi trường cho dịch chuyển nguồn lực của xã hội vào các lĩnh vực cần cơ cấu cân bằng lại. Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư Một trong những mặt trái của nền kinh tế thị trường chính là về có sự phân hóa trong dân cư thành các tầng lớp giàu nghèo. Khi nền kinh tế thị trường càng 6 phát triển thì khoảng cách giàu nghèo càng dãn rộng. Nhà nước phải lựa chọn can thiệp vào thị trường nhằm điều tiết lại thu nhập và mức độ phân hóa tầng lớp dân cư.
Trong trường hợp này thì Ngân sách nhà nước được coi là công cụ về mặt tài chính hiệu quả nhất. Các loại thuế điều tiết trực tiếp thu nhập như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp,… cùng với các loại thuế định hướng sản xuất tiêu dùng như thuế tiêu thụ đặc biệt,… được áp dụng để phân phối lại thu nhập cũng như tăng thu Ngân sách nhà nước. Các khoản chuyển giao về thu nhập như trợ cấp hay chi phúc lợi cho các chương trình nhằm mục tiêu phát triển xã hội như tiêm chủng, phổ cập về giao dục,… cũng là một cách tăng thu nhập cho tầng lớp thu nhập thấp cũng như phân bố lại các nguồn lực. Tổ chức hệ thống của Ngân sách Nhà nước Việt Nam hiện nay Toàn bộ ngân sách của các cấp chính quyền trực thuộc nhà nước được gọi là hệ thống ngân sách.
Các yếu tố tố tác động mạnh đến cách tổ chức của hệ thống ngân sách phải kể đến chế độ xã hội và sự phân của lãnh thổ về mặt hành chính. Ở Việt Nam hiện nay nhà nước được tổ chức với mô hình thống nhất. Vì vậy, hệ thống ngân sách đang được tổ chức theo hai cấp là: ngân sách trung ương và ngân sách của các cấp chính quyền địa phương (ngân sách thuộc thành phố/tỉnh, quận/huyện/thị xã và xã/phường) Hiện nay theo khoản 1 Điều 4 Luật ngân sách nhà nước 2002 thì: “Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương”. Nhìn một cách tổng thể, quy định này cho thấy mô hình về tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước gồm hai cấp là ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Trong hệ thống ngân sách này, Quốc hội chỉ phân giao nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể cho ngân sách trung ương, đồng thời xác định tổng khối lượng thu, chi trong năm ngân sách cho ngân sách địa phương. Luật ngân sách nhà nước 2002 đã trao quyền quyết định cho cơ quan quyền lực nhà nước cấp tỉnh trong việc phân phối nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương. Các bộ phận cấu thành của ngân sách địa phương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước 2002: “Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân”(khoản 1 Điều 4). Vì 7 vậy ngân sách địa phương cũng gồm ngân sách tỉnh, ngân sách huyện và ngân sách xã.
Như vậy, nói một cách đầy đủ, hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam gồm 2 cấp: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương trong đó ngân sách địa phương gồm có ba cấp là ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã. Hệ thống Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đang được tổ chức và quản lý thống nhất dựa theo nguyên tắc tập trung và nguyên tắc dân chủ, nó được thể hiện ở: – Tính thống nhất: Tức là đòi hỏi tất cả các khâu ở trong hệ thống ngân sách cần phải hợp thành một thể thống nhất, phải biểu hiện được rõ các cấp ngân sách có chung nguồn thu, có cùng các định mức về chi tiêu và phải cùng thực hiện một quá trình ngân sách như nhau.