CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN. Nhận thức chung về rủi ro và QLRR trong thủ tục hải quan. Khái niệm rủi ro Rủi ro là thuật ngữ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau với cách hiểu tương đối khác nhau. Theo nghĩa chung nhất rủi ro là những biến động xảy ra ngoài mong muốn.
Tuy nhiên, khi đi vào lĩnh vực cụ thể thì quan niệm về rủi ro lại khá khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt được Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm 1995 lại cho rằng "rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến"… Như vậy, rủi ro được hiểu như một sự kiện không mong đợi xảy ra, có khả năng mang lại tổn thất, làm cản trở chủ thể thực hiện các mục tiêu đề ra mang lại những thiệt hại, tổn thất không mong muốn, làm cản trở chủ thể thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Theo cách định nghĩa này, rủi ro được hiểu theo nghĩa bất trắc có thể đo lường được. Rủi ro có thể gây tác động tiêu cực, có thể mang lại tác động tích cực.
Rủi ro có thể gây tổn thất, mất mát, nguy hiểm, nhưng đồng thời cũng mang lại cơ hội cho những ai biết sử dụng chúng. Quan niệm này rất phổ biến trong những người đầu tư chứng khoán. Nhận thức cơ bản về QLRR trong thủ tục hải quan 1. Khái niệm về thủ tục hải quan Khi nền kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển thì nhu cầu về giao lưu hàng hóa quốc tế ngày càng được mở rộng.
Đối với mỗi quốc gia, khi có sự trao đổi hàng hóa với các quốc gia khác thì một đòi hỏi tất yếu là cần có cơ quan quản lý, kiểm soát tình hình hàng hóa thông thương, ra vào biên giới quốc gia. Việc các quốc gia thực hiện quản lý đối với hàng hoá ra vào quốc gia mình nhằm các mục tiêu cơ bản là về thuế và về ổn định kinh tế. Việc ra đời của bộ máy Nhà nước là đòi hỏi tất yếu khi xã hội loài người phát triển, do đó cần tới nguồn nuôi cho bộ máy này hoạt động. Thuế quan là công cụ cơ bản để phục vụ 5 cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước nên quản lý hàng hoá và đánh thuế trên hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tạo nên nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước.
Ở các quốc gia, nhiệm vụ quản lý về hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được giao cho cơ quan Hải quan, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của các bộ, ngành khác có liên quan. Tổ chức hải quan ra đời, đại diện cho Nhà nước, quản lý hàng hóa di chuyển giữa các quốc gia và thực hiện thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với các công việc chính gồm: thực hiện thủ tục hải quan để thông quan cho hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thu thuế ở khâu xuất nhập khẩu; thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong mỗi thời kỳ. Hàng hóa và người khi di chuyển từ lãnh thổ nước này sang nước khác đều phải làm thủ tục hải quan, tuy nhiên ở mỗi thời kỳ, quá trình làm thủ tục cũng như quy định về thủ tục hải quan khác nhau. Ở đây chúng ta sẽ xem xét trên phạm vi trong giai đoạn hiện nay.
Công ước Kyoto đưa ra khái niệm về thủ tục hải quan: "Thủ tục hải quan là tất cả các hoạt động tác nghiệp mà bên hữu quan và hải quan phải thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ của luật hải quan”. Trong Luật Hải quan Việt Nam: “Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo qui định của Luật Hải quan đối với hàng hoá, phương tiện vận tải”. Luật Hải quan Việt Nam đưa ra có sự phù hợp với công ước Kyoto, đều thể hiện về hoạt động tác nghiệp của các bên tham gia và phía hải quan và phải tuân thủ pháp luật hải quan. Như vậy: Thủ tục hải quan được hiểu là trình tự các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật khi thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.2 Nguyên tắc và yêu cầu của quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan a/ Nguyên tắc của quản lý rủi ro 6 - Cơ quan hải quan áp dụng quản lý rủi ro nhằm tạo thuận lợi đối với các tổ chức, cá nhân chấp hành tốt pháp luật về hải quan; đồng thời kiểm soát chặt chẽ các đối tượng không tuân thủ các quy định của pháp luật.
- Cơ quan hải quan thực hiện thu thập, phân tích thông tin, đánh giá rủi ro ở các giai đoạn trước, trong và sau thông quan theo các tiêu chí được xác định trong từng thời điểm, phù hợp với quy định của pháp luật về hải quan, điều kiện và khả năng thực tế để ra quyết định việc kiểm tra, giám sát, kiểm tra sau thông quan, kiểm soát hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo các trường hợp dưới đây : + Không tuân thủ pháp luật hải quan; + Có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan; + Kết quả phân tích, đánh giá xác định mức độ rủi ro cao; + Lựa chọn ngẫu nhiên. - Cơ quan hải quan áp dụng miễn kiểm tra đối với các đối tượng không thuộc các trường hợp quy định tại điểm 2 nêu trên. - Cơ quan hải quan áp dụng quản lý rủi ro theo Quy trình và các quy định về quyền hạn, trách nhiệm được quy định tại Quyết định này. - Các quy trình nghiệp vụ hải quan phải được xây dựng, áp dụng dựa trên các quy định về áp dụng quản lý rủi ro.
b/ Yêu cầu của quản lý rủi ro Để đảm bảo hoạt động quản lý rủi ro thực hiện được mục tiêu đã định, việc tổ chức thực hiện phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Nâng cao nhận thức về rủi ro cũng như khả năng ứng phó với rủi ro một cách phù hợp trong toàn Tổng cục. - Chính thức hóa quá trình quản lý rủi ro. - Xây dựng qui trình quản lý rủi ro thống nhất trong Tổng cục. 7 - Minh bạch hóa các rủi ro.
- Đưa quản lý rủi ro thành một phần chính thức trong hệ thống kiểm soát nội bộ chung. - Để thiết lập hệ thống quản lý rủi ro, Tổng cục Hải quan cần bắt đầu từ việc xây dựng chính sách quản lý rủi ro. Chính sách này sẽ xác định rõ phương pháp tiếp cận đối với rủi ro và quản lý rủi ro. Bên cạnh đó, chính sách quản lý rủi ro cũng qui định rõ trách nhiệm đối với quản lý rủi ro xuyên suốt trong Tổng Cục.
- Cam kết của các cấp lãnh đạo đối với hoạt động quản lý rủi ro; - Phân công trách nhiệm rõ ràng trong Tổng cục đối với từng bộ phận và cá nhân liên quan đến hoạt động quản lý rủi ro - Cần đảm bảo phân bổ hợp lý các nguồn lực cho họat động đào tạo và nâng cao nhận thức về rủi ro và việc thực thi, tuân thủ chính sách quản lý rủi ro. Đồng thời việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro được đưa vào hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng thực hiện công việc của từng đơn vị và cá nhân. Vai trò của quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan a/ Tăng cường vai trò quản lý nhà nước của cơ quan Hải quan trong quản lý hoạt động xuất nhập khẩu Với mục tiêu thực hiện nội dung cải cách, hiện đại hóa Hải quan, chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, giảm thiểu thời gian thông quan, giải phóng hàng hóa nhằm tiết kiệm chi phí phát sinh, nhưng đồng thời phải đảm bảo mức độ tuân thủ pháp luật nói chung và pháp luật hải quan nói riêng thì việc áp dụng quản lý rủi ro là yêu cầu cấp thiết đối với ngành hải quan. Việc áp dụng thực hiện quản lý rủi ro cho phép cơ quan hải quan tập trung hơn vào vai trò quản lý nhà nước của mình, không phải dàn trải nguồn lực để thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh theo từng vụ việc, từng lô hàng.
8 Với việc phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, cơ quan hải quan có thể tập trung hơn vào vai trò quản lý nhà nước của mình như tập trung nghiên cứu, phát hiện và sửa đổi các văn bản pháp luật hải quan còn chồng chéo, không phù hợp, gây khó khăn cho người thực hiện; xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hải quan phù hợp và hiệu quả trong mục tiêu nâng cao hiệu quả kiểm tra, kiểm soát các đối tượng quản lý của hải quan. Đồng thời, trong xu thế phát triển ngày nay của hoạt động thương mại quốc tế, cũng như hiện đại hóa công tác hải quan, việc hướng dẫn thực hiện, tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao sự hiểu biết về pháp luật Hải quan cho các đối tượng trong và ngoài ngành hải quan là một yêu cầu, nhiệm vụ tất yếu. Thực hiện quản lý rủi ro cho phép cơ quan hải quan phân bổ được nguồn nhân lực thực hiện các nhiệm vụ trên. Mặt khác, việc thực hiện quản lý rủi ro với kỹ thuật mới hiện đại, áp dụng công nghệ thông tin, sử dụng các hệ thống phần mềm với đầy đủ các chức năng, trong đó có chức năng thống kê, kết xuất số liệu tạo thuận lợi hơn cho cơ quan hải quan thực hiện tốt hơn vai trò thống kê nhà nước về hải quan.
Như vậy, thực hiện quản lý rủi ro góp phần giúp cơ quan hải quan có thể thực hiện tốt hơn các vai trò quản lý nhà nước của mình b/ Tiết kiệm chi phí, nguồn lực Việc thực hiện quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan cho phép cơ quan hải quan có thể thực hiện “trọng tâm, trọng điểm”, tập trung nguồn lực vào kiểm tra, kiểm soát một số giao dịch nhất định. Thực hiện quản lý rủi ro, cơ quan hải quan sẽ giảm bớt được số giao dịch phải thực hiện kiểm tra thực tế, chỉ thực hiện kiểm tra thực tế những giao dịch có mức độ rủi ro được đánh giá, phân tích là có độ rủi ro cao, do đó đã tiết kiệm được rất nhiều chi phí phát sinh khi thực hiện kiểm tra thực tế, cũng như sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, đảm bảo nâng cao chất lượng kiểm tra, kiểm soát hải quan.