CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ - VNACCS/VCIS 1.1 T ủ ục q đ ệ ử - Vnaccs/Vcis 1.1 Khái niệm về thủ tục hải quan Công ước Kyoto đưa ra khái niệm về thủ tục hải quan: “Thủ tục hải quan” là tất cả các hoạt động tác nghiệp mà bên hữu quan và hải quan phải thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ của luật Hải quan. Theo Khoản 6 Điều 4 Luật Hải quan 2014: “Thủ tục hải quan” là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo qui định của Luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải.2 Khái niệm về thủ tục hải quan điện tử - Vnaccs/Vcis Theo Điều 3 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ: “Thủ tục hải quan điện tử” là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan. “Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan” là hệ thống do Tổng cục Hải quan quản lý cho phép cơ quan Hải quan thực hiện thủ tục hải quan điện tử, kết nối, trao đổi thông tin về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu với các Bộ, Ngành có liên quan. “Hệ thống khai hải quan điện tử” là hệ thống cho phép người khai hải quan thực hiện việc khai hải quan điện tử, tiếp nhận thông tin, kết quả phản hồi của cơ quan hải quan trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử.
* Vnaccs/Vcis là Hệ thống thông quan tự động và Cơ chế một cửa quốc gia gồm 02 hệ thống nhỏ: (1) Hệ thống Vnaccs là hệ thống thông quan hàng hóa tự động của Việt Nam (Tên tiếng Anh là Viet Nam Automated Cargo Clearance System) sử dụng cho mục đích thông quan hàng hóa XNK. (2) Vcis là Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin tình báo (Viet Nam Customs Intelligent Database System), sử dụng cho hoạt động nghiệp vụ Hải quan, gọi tắt là Hệ thống Vnaccs/Vcis do Chính phủ Nhật Bản tài trợ cho Hải quan Việt Nam. So với hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan trước đây, Hệ thống Vnaccs/Vcis có điểm mới là tập trung cả 03 khâu: Khâu trước, trong và sau thông quan. Hệ thống trước đây chỉ tập trung khâu trong và sau thông quan.
Toàn bộ khâu trước thông quan trước đây mới chỉ được thực hiện thí điểm trong khuôn khổ Dự án E-manifest, theo đó, hãng tàu phải gửi trước toàn bộ thông tin hàng hóa trên tàu cho cơ quan Hải quan. Hệ thống Vnaccs/Vcis mở rộng thêm các chức năng, thủ tục mới, đó là thủ tục đăng ký 10 danh mục miễn thuế, thủ tục áp dụng chung cả hàng mậu dịch và phi mậu dịch, thủ tục đơn giản đối với hàng trị giá thấp, quản lý hàng hóa tạm nhập - tái xuất. Chức năng khác của Hệ thống Vnaccs/Vcis là tăng cường kết nối với các Bộ, Ngành bằng cách áp dụng Cơ chế một cửa (Single Window). Cơ quan Hải quan tra cứu giáy phép, kết quả kiểm tra chuyên ngành của các Bộ, Ngành cấp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia để giải quyết thủ tục hải quan cho hàng hóa XNK, quá cảnh.
Hệ thống Vnaccs/Vcis tiếp nhận và xử lý phân luồng tờ khai hải quan tự động nhờ chức năng kết nối tích hợp với các Hệ thống phần mềm quản lý nghiệp vụ khác của của ngành Hải quan và thông tin khai báo của doanh nghiệp. Hạn chế sử dụng hồ sơ giấy thông qua việc áp dụng chữ ký điện tử (chữ ký số), chứng từ điện tử. Thời gian xử lý đối với tờ khai hải quan luồng xanh từ 01 đến 03 giây. Thời gian xử lý đối với tờ khai luồng vàng và luồng đỏ phụ thuộc vào thời gian kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa.
Hệ thống Vnaccs/Vcis kết nối với nhiều hệ thống công nghệ thông tin của các bên liên quan như: doanh nghiệp kinh doanh kho bãi, cảng, dịch vụ giao nhận, vận chuyển, ngân hàng nộp thuế điện tử 24/7 và các Bộ, Ngành liên quan thông qua cơ chế một cửa quốc gia.2 Tổ q về q lý rủ ực ệ ủ ục q đệ ử 1.1 Khái niệm về rủi ro Đã có rất nhiều định nghĩa được đưa ra để giải thích khái niệm rủi ro. Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm 1995 định nghĩa: "Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến". Theo quan điểm của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO): “Rủi ro trong thủ tục hải quan là sự không tuân thủ pháp luật về hải quan”. Trích dẫn theo định nghĩa tại Phụ lục tổng quát - Chương 6 - hướng dẫn Công ước Kyoto sửa đổi năm 1999, “Rủi ro là nguy hiểm tiềm ẩn của việc không tuân thủ pháp luật Hải quan, quản lý rủi ro là việc áp dụng các quy trình được thiết kế để giảm thiểu các rủi ro trên”.
Nguy cơ không tuân thủ pháp luật Hải quan có thể đến từ trong nội bộ ngành Hải quan (rủi ro bên trong), những rủi ro này thường là những cản trở tạo thuận lợi thương mại. Theo Khoản 19 Điều 4 Luật Hải quan 2014, “Rủi ro là nguy cơ không tuân thủ pháp luật về hải quan trong việc thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải”. Theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 175/2013/TT-BTC ngày 29/11/2013 của Bộ Tài chính quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan: “Rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan là nguy cơ không tuân thủ pháp luật Hải 11 quan, pháp luật thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh”.2 Khái niệm về quản lý rủi ro Theo tổ chức Hải quan thế giới (WCO), “Quản lý rủi ro hải quan được hiểu là việc áp dụng có hệ thống các thủ tục quản lý và thông lệ mang đến cho hải quan những thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề vận chuyển hàng hoá hoặc lô hàng đặt ra vấn đề rủi ro”. Theo Khoản 18 Điều 4 Luật Hải quan năm 2014, “Quản lý rủi ro là việc cơ quan Hải quan áp dụng hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro, làm cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các nghiệp vụ hải quan khác có hiệu quả”.
Theo Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 175/2013/TT-BTC ngày 29/11/2013 của Bộ Tài chính, “Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan là việc áp dụng có hệ thống các quy định pháp luật, các quy trình, biện pháp nghiệp vụ để xác định, đánh giá và phân loại các rủi ro có tác động tiêu cực đến hiệu lực, hiệu quả quản lý hải quan, quản lý thuế, làm cơ sở để cơ quan Hải quan phân bổ hợp lý nguồn lực, áp dụng hiệu quả các biện pháp quản lý hải quan, quản lý thuế”.3 Các loại rủi ro Hải quan là một lĩnh vực rất nhạy cảm và chứa đựng nhiều rủi ro. Điều đó có thể thấy với các rủi ro có thể xảy ra như sau: - Các hạn chế, sơ hở trong chính sách quản lý hải quan, chính sách thuế, quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá XNK; trong tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan có thể bị lợi dụng vi phạm pháp luật về Hải quan. - Các nguy cơ vi phạm về: + Thủ tục hải quan, thủ tục thuế, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, xuất nhập khẩu hàng hoá thuộc danh mục quản lý chuyên ngành. + Phân loại hàng hoá XNK; trị giá hải quan.
+ Xuất xứ hàng hoá XNK; hàng giả, quyền sở hữu trí tuệ. + Trốn thuế, gian lận thuế trong hoạt động XNK. + Buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới. + Buôn bán, vận chuyển ma tuý, tiền chất, vũ khí, chất phóng xạ qua biên giới.
Mỗi loại rủi ro có những cách nhận biết và xử lý khác nhau, tùy thuộc vào tính chất, tần suất xuất hiện, mức độ tổn thất. Do đó, cần phân loại rủi ro theo những tiêu thức nhất định. Trong lĩnh vực Hải quan rủi ro được phân thành 03 loại sau: 12 - Rủi ro tiềm ẩn: Cùng với việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp để rút ngắn thời gian thông quan thì khả năng để lọt lưới gian lận thương mại, buôn lậu, vốn là những nguy cơ tiềm ẩn sẵn có trong lĩnh vực hải quan theo đó cũng tăng lên. - Rủi ro quy định: Là những rủi ro phát sinh từ việc các doanh nghiệp XNK lợi dụng sơ hở trong quy định của pháp luật, cố ý làm trái để hưởng lợi.
- Rủi ro phát hiện: Là những sai phạm nghiêm trọng của doanh nghiệp XNK mà công chức hải quan không phát hiện được hoặc những sai phạm của công chức hải quan cấp dưới không được các đoàn kiểm tra cấp trên phát hiện ra.4 Tiêu chí quản lý rủi ro Cơ quan Hải quan xây dựng tiêu chí quản lý rủi ro (là các tiêu chuẩn được ban hành), ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ làm cơ sở đánh giá rủi ro, đánh giá tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế của người thực hiện XNK để áp dung các biện pháp kiểm tra, đảm bảo kiểm soát việc tuân thủ pháp luật Hải quan, pháp luật thuế, đồng thời tạo thuận lợi cho hoạt động XNK. Tiêu chí quản lý rủi ro là nòng cốt, trái tim của thủ tục hải quan điện tử, có 04 loại tiêu chí quản lý rủi ro: - Loại tiêu chí quy định: Là tiêu chí quản lý rủi ro được xây dựng dựa trên quy định hiện hành của pháp luật hải quan, chính sách quản lý hiện hành về hàng hóa và thuế xuất khẩu, nhập khẩu và những quy định khác có liên quan đến việc áp dụng quản lý rủi ro trong từng thời điểm, giai đoạn cụ thể. + Tiêu chí quy định được xây dựng dựa trên các cơ sở: Quy định của pháp luật Hải quan về kiểm tra hải quan đối với hàng hoá XNK thương mại; quy định của pháp luật thuế về việc kiểm tra thuế đối với hàng hoá XNK thương mại; văn bản chỉ đạo, yêu cầu của Chính phủ và các Bộ, Ngành trong việc kiểm tra, kiểm soát đối với hàng hoá XNK thương mại; chỉ đạo, yêu cầu nghiệp vụ của Tổng cục Hải quan trong việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát đối với hàng hoá XNK thương mại.