Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước; Chương 2: Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của Sở Tài chính Nghệ An giai đoạn 2011 - 2014; Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của Sở Tài chính trên địa bàn tỉnh Nghệ An. 6 CHƢƠNG1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Ngân sách Nhà nƣớc và chi thƣờng xuyên ngân sách Nhà nƣớc 1. Khái niệm về ngân sách Nhà nước.
Nguồn quỹ tài chính của một quốc gia được hình thành ngay từ khi có sự ra đời của Nhà nước, là nguồn lực quan trọng phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của quốc gia đó và góp phần thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Tuy nhiên, khái niệm nguồn quỹ tài chính chưa phản ánh rõ ràng tính chất sử dụng, quản lý và phân phối nguồn lực tài chính của Nhà nước. Cùng với sự tiến bộ của hệ thống tài chính quốc gia và hệ thống quản lý Nhà nước, khái niệm ngân sách Nhà nước ra đời, thể hiện đầy đủ bản chất, chức năng, nhiệm vụ của nguồn quỹ tài chính quốc gia. Theo Luật ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002, thực hiện từ ngày 01/10/2004: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Theo Luật ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thong qua ngày 25/6/2015, thực hiện từ năm ngân sách 2017: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Khái niệm này đã đề cập đến các vấn đề về: hình thức, cơ cấu, pháp lý và thời gian thực hiện ngân sách Nhà nước. Về mặt hình thức, ngân sách Nhà nước là một bản dự trù các khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước. Về cơ cấu, ngân sách Nhà 7 nước bao gồm tất cả các khoản thu, chi của Nhà nước.
Về mặt pháp lý, các khoản thu, chi ngân sách Nhà nước được các cơ quan có thẩm quyền dự toán, thông qua, giám sát và thực hiện. Về thời gian, ngân sách Nhà nước được thực hiện trong khoảng thời gian nhất định, thường là một năm và được gọi là năm tài khóa. Khái quát về chi thường xuyên ngân sách Nhà nước. Chi ngân sách Nhà nước là một bộ phận quan trọng của hệ thống ngân sách Nhà nước, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Chi ngân sách Nhà nước bao gồm chủ yếu các khoản chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, trong đó chi thường xuyên mang tính ổn định, có sự cấp thiết, không thể thiếu, mang tính tiêu dùng cho xã hội. Chi thường xuyên ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi gắn liền với thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội. cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước ngày càng gia tăng, do đó đã làm phong phú nội dung chi thường xuyên của ngân sách Nhà nước. ngân sách nhà nước.
Khuôn khổ ệt Nam hiệ ả , đả. Bên cạ , chi ả 9 , kỹ m ẩ. Trong khuôn khổ ậ. ụ , nghệ thuật, bả , thể ỉ nh độ ả ộ.
- hoạt động quả (chi quả khoả , việ 10 ộ ị ộ ể ạ ẩu… - Chi cho hoạt động an ninh, quố ả ộ ẹ , chống lạ ậ. - ản chi trên, mộ , chi trả b. Đặc điểm các khoản chi thƣờng xuyên. Chi thường xuyên là những khoản chi mang những đặc trưng cơ bản: Chi thường xuyên mang tính ổn định, liên tục: Xuất phát từ sự tồn tại của bộ máy Nhà nước, từ việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, đòi hỏi nguồn lực tài chính ổn định duy trì cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Tính ổn định của chi thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ổn định trong từng hoạt động cụ thể của mỗi bộ phận thuộc bộ máy Nhà nước. Là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội: Các khoản chi thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính Nhà nước, về quốc phòng, an ninh, về các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức. Các khoản chi thường xuyên gắn với tiêu dùng của Nhà nước và xã hội mà kết quả của chúng là tạo ra các hàng hóa và dịch vụ công cho hoạt động của Nhà nước và yêu cầu phát triển của xã hội. 11 Phạm vị, mức chi thường xuyên gắn chặt với cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa công cộng.
Các khoản chi thường xuyên hướng vào việc đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước, do đó nếu bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên giảm. Hoặc những quyết định của Nhà nước trong việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hóa công cộng cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên. Phân loại chi thƣờng xuyên Chi thường xuyên ngân sách Trung ương và chi thường xuyên ngân sách địa phương đều có các nội dung chi về quản lý hành chính Nhà nước, chi quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội, chi sự nghiệp văn hóa xã hội, chi sự nghiệp kinh tế của Nhà nước. Các nội dung chi này cũng được phân cấp rõ ràng theo nhiệm vụ, quyền hạn quản lý hoạt động của Trung ương và địa phương.
Theo lĩnh vực và nội dung chi, chi thường xuyên được phân loại thành 4 khoản chi cơ bản sau: - Chi quản lý hành chính Nhà nước: với chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội, nên bộ máy Nhà nước được thiết lập từ Trung ương đến dịa phương và toàn bộ các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Chi quản lý hành chính Nhà nước nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước. Theo nghĩa rộng, các khoản chi bao quát 5 lĩnh vực cơ bản: chi về hoạt động của các cơ quan quyền lực Nhà nước; chi về hoạt động của hệ thống cơ quan pháp luật, chi về hoạt động quản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội cho hệ thống các cơ quan quản lý kinh tế - xã hội và các cấp chính quyền các cấp; chi về hoạt động của các cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở các cấp; chi về hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội. - Chi quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội: chi quốc phòng, an ninh được tính vào khoản chi thường xuyên đặc biệt quan trọng, vì đây là lĩnh vực mà hoạt động của nó đảm bảo sự tồn tại của Nhà nước, ổn định trật tự xã hội và sự toàn vẹn lãnh thổ.
Khoản chi này được chia làm 2 bộ phận cơ bản: các khoản chi cho 12 quốc phòng để phòng thủ và bảo vệ Nhà nước, chống lại sự xâm lược và đe dọa của nước ngoài; các khoản chi nhằm bảo vệ, giữ gìn chế độ xã hội, an ninh của dân cư trong nước. - Chi sự nghiệp văn hóa xã hội: là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội, liên quan đến sự phát triển đời sống tình thần của các tầng lớp dân cư. Chi văn hóa xã hội gắn liền với quá trình đầu tư phát triển nhân tố con người. chi văn hóa xã hội bao gồm các khoản chi cho các hoạt động sự nghiệp: sự nghiệp khoa học công nghệ, sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình và cac hoạt động khác… - Chi sự nghiệp kinh tế của Nhà nước: việc thành lập các đơn vị sự nghiệp kinh tế để phục vụ cho hoạt động của mỗi ngàng và phục vụ chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân là hết sức cần thiết.
Các hoạt động sự nghiệp do Nhà nước thực hiện để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của các thành phần kinh tế. Các khoản chi này nhiều lúc Nhà nước không hướng tới nguồn thu và lợi nhuận. Ngân sách Nhà nƣớc cấp tỉnh và chi thƣờng xuyên ngân sách cấp tỉnh 1. Khái niệm ngân sách Nhà nước cấp tỉnh Theo Luật Ngân sách nhà nước của Việt Nam (sửa đổi năm 2002 và có hiệu lực từ năm 2004), quy định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Hệ thống NSNN gồm NSTW và NSĐP. Trong đó cấp cao nhất trong ngân sách địa phương là ngân sách cấp tỉnh. Ngân sách Nhà nước cấp tỉnh là nguồn ngân sách do HĐND và UBND cấp tỉnh quản lý nhằm đảm bảo thực hiện các hoạt động, chức năng, nhiệm vụ được giao. Ngân sách địa phƣơng NSĐP là các khoản thu, chi ngân sách của các cấp chính quyền địa phương 13 phù hợp với địa giới hành chính và với hiến pháp, pháp luật; là dự toán thu, chi ngân sách của chính quyền địa phương đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong một thời gian nhất định, đảm bảo điều kiện vật chất cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước ở địa phương.
NSĐP thực hiện cân đối các khoản thu và các khoản chi của Nhà nước tại địa phương, cùng NSTW thực hiện vai trò của NSNN, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội. Thông qua việc huy động các khoản thuế theo pháp luật và sử dụng các nguồn quỹ ngân sách, thực hiện phân bổ chi tiêu, NSĐP góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế của địa phương, định hướng đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn, vùng và lãnh thổ.