Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội 1. Khái quát về Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam Có nhiều định nghĩa về Ngân hàng chính sách nhưng đều thống nhất ở điểm sau: NHCS là một loại hình ngân hàng chuyên thực hiện các chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ trong từng thời kỳ nhất định. Đây là các khoản cho vay phi thương mại đối với các đối tượng ưu tiên thuộc các chính sách của Chính phủ mà các đối tượng này khó có thể đáp ứng hoặc tiếp cận với các tiêu chí thương mại.
Phân loại NHCS gồm có 02 loại dựa trên đối tượng phục vụ: - Ngân hàng chính sách phục vụ các chính sách phát triển như phát triển cơ sở hạ tầng, chính sách hỗ trợ ngành công nghiệp… được gọi là Ngân hàng phát triển. - Ngân hàng chính sách phục vụ các chính sách an sinh xã hội như chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách tạo việc làm, nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn…gọi là Ngân hàng Chính sách xã hội. Vậy Ngân hàng Chính sách xã hội là gì? Ngân hàng Chính sách xã hội là một tổ chức tín dụng, là một loại hình ngân hàng chính sách có nhiệm vụ chủ yếu là thực thi tín dụng chính sách của Chính phủ đối với nhóm đối tượng chính sách xã hội. NHCSXH là ngân hàng đặc thù của Chính phủ, hoạt động trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, thực hiện các chương trình mục tiêu Quốc gia theo chỉ đạo của Chính phủ, có nhiều điểm khác biệt so với các Ngân hàng thương mại.
Những điểm khác biệt chủ yếu là: - NHCSXH là ngân hàng của Chính phủ, có tư cách pháp nhân. - NHCSXH có nguồn vốn chủ yếu từ ngân sách và được ngân sách hỗ trợ chi phí. Hoạt động huy động vốn của NHCSXH xuất phát từ tính chất của các 8 món cho vay mà ngân hàng cung ứng. Đó là các món vay có tỷ lệ sinh lời thấp, thời gian dài, rủi ro cao nên yêu cầu đối với ngân hàng là phải huy động vốn có lãi suất tương đối thấp, thời gian sử dụng dài.
- NHCSXH là Ngân hàng được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán đối với các nguồn huy động do chức năng hoạt động của NHCSXH là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. - Mục tiêu hoạt động của NHCSXH là cho các đối tượng là hộ nghèo và các đối tượng chính sách vay vốn với lãi suất ưu đãi, có điều kiện để phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống vươn lên thoát nghèo bền vững. Mức cho vay và lãi suất cho vay của NHCSXH là do Chính phủ quy định, tùy thuộc vào từng thời kỳ cụ thể. - NHCSXH hoạt động vì mục tiêu chính sách của Đảng và Nhà nước, vì vậy được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, không phải thực hiện dự trữ bắt buộc (tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách.
Sự cần thiết phải tăng cường hoạt động huy động vốn của NHCSXH Nguồn vốn có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, là yếu tố quyết định để Đảng và Nhà nước thực hiện mục tiêu, chiến lược quốc gia. Đối với ngân hàng nói chung và NHCSXH nói riêng, vốn đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thứ nhất, vốn là cơ sở để NHCSXH tiến hành hoạt động theo đúng chức năng và nhiệm vụ được Nhà nước giao. NHCSXH là ngân hàng hoạt động không vì mục đích lợi nhuận với chức năng, nhiệm vụ được giao là triển khai thực hiện Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, góp phần cùng Nhà nước thực hiện các mục tiêu về 9 giảm nghèo nhanh và bền vững, tạo việc làm, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an sinh xã hội.
Trong buổi làm việc với NHCSXH Việt Nam, tháng 01 năm 2017, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đã giao nhiệm vụ cho NHCSXH: “Không chỉ dựa vào nguồn vốn từ phát hành trái phiếu Chính phủ, ngân sách Nhà nước, hay tỷ lệ 2% số dư tiền gửi của các NHTM mà phải tìm ra cách thức huy động vốn từ thị trường”. Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ được Nhà nước giao, công tác huy động vốn đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm của NHCSXH, đặc biệt là trong thời gian tới. Thứ hai, vốn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và chất lượng hoạt động của NHCSXH. NHCSXH cũng như các loại hình NHTM khác muốn hoạt động được cần phải có vốn.
Nguồn vốn giữ vai trò quan trọng quyết định trong sự tồn tại và hoạt động của ngân hàng. Vốn ảnh hưởng trực tiếp quy mô và chất lượng hoạt động của ngân hàng. Nguồn vốn khả dụng của ngân hàng quyết định đến mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng, hoạt động thanh toán,. Một ngân hàng có nguồn vốn hạn hẹp, chắc chắn không thể mở rộng thị trường, do không đủ nguồn lực để đầu tư.
Hơn nữa, nếu nguồn vốn hạn hẹp ngân hàng cũng khó có khả năng phản ứng nhạy bén với sự biến động về lãi suất, ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế. Thứ ba, vốn là điều kiện giúp Ngân hàng chủ động nâng cao năng lực tài chính và hiệu quả hoạt động. Thực tế đã chứng minh, các ngân hàng muốn tồn tại và phát triển phải có vốn. Nguồn vốn giữ vai trò quyết định trong sự tồn tại và hoạt động của ngân hàng, quyết định quy mô cũng như định hướng hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là nguồn vốn huy động.
Ngân hàng muốn tăng trưởng dư nợ phải dựa vào nguồn vốn này. Chính vì vậy, khi xây dựng chiến lược phát triển, NHCSXH đã 10 xây dựng và thực hiện đề án huy động vốn để tạo nguồn cung cấp vốn nhằm giúp ngân hàng chủ động nâng cao năng lực tài chính và hiệu quả hoạt động. Thứ tư, vốn là điều kiện để giúp Ngân hàng quyết định năng lực giải ngân và nâng cao uy tín trong hoạt động phục vụ khách hành. Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng phát triển, đòi hỏi ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường là điều trọng yếu.
Uy tín đó phải được thể hiện trước hết là khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Với một ngân hàng có quy mô nhỏ, khi nhu cầu vay vốn trên thị trường là rất lớn, một mặt ngân hàng không đáp ứng đủ nhu cầu vay, mặt khác với quy mô nhỏ, ngân hàng nếu cho vay tối đa nguồn vốn huy động được, dự trữ ít sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán. Trong khi đó, với một ngân hàng trường vốn, họ thực hiện dự trữ đủ khả năng thanh toán đồng thời vẫn thỏa mãn được nhu cầu vay vốn của nền kinh tế, do đó sẽ tạo được uy tín ngày càng cao trong hoạt động phục vụ khách hàng. Thứ năm, vốn là điều kiện để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường tài chính hiện nay.
Đối với bất kỳ kinh doanh nào, muốn kinh doanh được phải có vốn, vì vốn phản ánh năng lực kinh doanh. Điều này thể hiện ở vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay của ngân hàng. Nếu vốn tự có giữ vai trò quan trọng trong việc thành lập thì sau khi đi vào hoạt động, vốn huy động quyết định tới quy mô đầu tư, cho vay nên sẽ ảnh hưởng tới thu nhập của ngân hàng. Với đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu.
Trên thực tế, ngân hàng nào có khối lượng vốn lớn hơn thì ngân hàng đó có thế mạnh cạnh tranh trong kinh doanh. Mặt khác, với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm giữ chữ tín, vừa nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị trường tài chính. Các hình thức huy động vốn của NHCSXH 1. Huy động từ chủ sở hữu 11 Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước: Vốn điều lệ được NSNN cấp khi thành lập và bổ sung hàng năm; vốn cho vay xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm và thực hiện các chính sách xã hội khác có nguồn gốc từ NSNN, vốn do ngân sách các cấp chính quyền địa phương chuyển sang (ủy thác) để cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn, vốn ODA do Chính phủ giao.
Đây là một nguồn vốn ổn định, dài hạn và không chịu tác động thay đổi của thị trường lãi suất. Nguồn vốn từ NSNN là một đặc điểm nổi bật ở Việt Nam, xuất phát từ sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ đối với công cuộc xoá đói, giảm nghèo. Vốn huy động trên thị trường - Huy động tiền gửi có trả lãi của các tổ chức, cá nhân trong phạm vi kế hoạch được Chính phủ giao. Hàng năm, trên cơ sở kế hoạch tăng trưởng tín dụng được Chính phủ phê duyệt, NHCSXH cân đối nguồn vốn hiện có, chủ động xây dựng kế hoạch nhận tiền gửi để đủ vốn thực hiện nhiệm vụ tăng trưởng tín dụng.
Đây là nguồn vốn phải trả theo lãi suất thị trường, được NSNN cấp bù chênh lệch lãi suất, tính ổn định không cao, nhạy cảm với lãi suất. Gồm các hình thức : + Huy động vốn của các tổ chức tín dụng, tài chính, kinh tế và cá nhân. + Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác. + Huy động tiết kiệm tự nguyện của người nghèo và các đối tượng chính sách khác thông qua các tổ Tiết kiệm và vay vốn - Tiền gửi 2% trên số dư nguồn vốn huy động bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng Nhà nước.
Huy động bằng hình thức đi vay Vay của các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước, vay tiết kiệm bưu điện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, vay Ngân hàng Nhà nước, kho bạc, các tổ 12 chức tài chính quốc tế. Nguồn vốn này tương đối bị động đặc biệt khi thị truờng vốn có biến động về lãi suất và thanh khoản.