LỜI MỞ ĐẦU Hiệu quả sản xuất kinh doanh và lợi nhuận luôn là mối quan tâm và là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu đó thì một trong những biện pháp mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần đó là phải không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Đó chính là chìa khóa, là con đường ngắn nhất giúp doanh nghiệp có được kết quả kinh doanh tốt nhất cho mình. Nhiều nhà phân tích tài chính đã ví vốn lưu động của doanh nghiệp như dòng máu tuần hoàn trong cơ thể con người.
Vốn lưu động được ví như vậy có lẽ bởi sự tương đồng về tính tuần hoàn và sự cần thiết của vốn lưu động đối với “cơ thể” doanh nghiệp. Vốn lưu động là một chỉ số liên quan đến lượng tiền mà doanh nghiệp cần để duy trì hoạt động thường xuyên, hay nói cách cụ thể hơn đó là lượng tiền cần thiết để tài trợ cho hoạt động chuyển hóa nguyên liệu thô thành thành phẩm bán ra thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiêp muốn hoạt động thì không thể không có vốn. Vốn của doanh nghiệp nói chung và vốn lưu động nói riêng có mặt trong mọi khâu hoạt động của doanh nghiệp từ: dự trữ, sản xuất đến lưu thông.
Những thành tố quan trọng của vốn lưu động đó là lượng hàng tồn kho, khoản phải thu, chi phí trả trước… Các nhà phân tích thường xem xét các khoản mục này để đánh giá hiệu quả và tiềm lực tài chính của một doanh nghiệp. Vốn lưu động vừa là thước đo cho cả hiệu suất và sức mạnh tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp. Tuy nhiên do sự vận động phức tạp và trình độ quản lý tài chính còn hạn chế ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam, vốn lưu động chưa được quản lý, sử dụng có hiệu quả dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cao. Trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH MTV Dược khoa, em nhận thấy đây là một vấn đề thực sự quan trọng và rất cần thiết ở Công ty, nơi có tỷ trọng vốn lưu động lớn, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đang là một chủ đề mà công ty rất quan tâm.
Với nhận thức như vậy, bằng những kiến thức quý báu về tài chính doanh nghiệp, vốn lưu động tích luỹ được trong thời gian học tập, nghiên cứu tại Học viện Ngân hàng, cùng thời gian thực tập thiết thực tại Công ty TNHH MTV Dược khoa, Nguyễn Thị Phương Anh TCDNE-K14 Khóa luận tốt nghiệp 2 Học viện Ngân hàng em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty TNHH MTV Dƣợc khoa- Trƣờng Đại học Dƣợc Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Khóa luận gồm có 3 chương: Chƣơng 1. Những vấn đề cơ bản về vốn lƣu động và hiệu quả sử dụng vốn lƣu động. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty TNHH MTV Dƣợc khoa.
Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty TNHH MTV Dƣợc khoa. Do những hạn chế về trình độ nhận thức và thời gian thực tập, chuyên đề này chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được những đóng góp từ phía thầy cô giáo, và các bạn để khóa luận của em có thể hoàn thiện hơn cũng như giúp em hiểu sâu hơn về đề tài mà mình đã lựa chọn. Để hoàn thành luận văn này em đã được sự giúp đỡ, hướng dẫn rất tận tình của cô giáo Th.S Vũ Chi Mai cùng các anh chị cán bộ, nhân viên phòng kế toán – tài chính của Công ty TNHH MTV Dược khoa.
Em xin chân thành sự giúp đỡ quý báu của cô giáo và các anh chị ! Nguyễn Thị Phương Anh TCDNE-K14 Khóa luận tốt nghiệp 3 Học viện Ngân hàng CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN LƢU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của vốn lưu động 1. Khái niệm vốn lưu động Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có tài sản mà được biểu hiện bằng tiền là nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Trong tổng tài sản của doanh nghiệp có một bộ phận tài sản chiếm vị trí quan trọng là tài sản lưu động.
Tài sản lưu động của doanh nghiệp gồm 2 bộ phận: Tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông. Trong quá trình sản xuất, tài sản lưu động này vận động không ngừng, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi. Vì vậy để các doanh nghiệp luôn có một lượng tài sản lưu động đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn phải duy trì một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào tài sản đó. Vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
“Vốn lưu động (VLĐ) của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục”. Đặc điểm của vốn lưu động Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng, nên sự tuần hoàn của vốn lưu động cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển vốn lưu động, được mô tả như sau: T-H-H’-T’ Tiền vốn- Nguyên vật liệu- Thành phẩm- Tiền thu về Nguyễn Thị Phương Anh TCDNE-K14 Khóa luận tốt nghiệp 4 Học viện Ngân hàng Trong mỗi một chu kỳ VLĐ từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật chất là vật tư, hàng hóa dự trữ cho hoạt động sản xuất, qua giai đoạn sản xuất vật tư được đưa vào sản xuất tạo nên thành phẩm và đưa vào tiêu thụ. Kết thúc chu kỳ, khi doanh nghiệp thu được tiền từ việc bán sản phẩm ra thị trường, VLĐ lại trở về hình thái tiền tệ ban đầu. Trên thực tế chu trình trên không diễn ra một cách tuần tự mà đan xen vào nhau, trong khi một bộ phận VLĐ được chuyển hóa thành vật tư, hàng hóa dự trữ thì một bộ phận khác của vốn lưu động đang kết tinh trong thành phẩm lại được chuyển hóa trở lại thành vốn bằng tiền, cứ như vậy các chu kỳ sản xuất kinh doanh được lặp đi lặp lại, VLĐ được tuần hoàn và luân chuyển liên tục.
Tóm lại, vốn lưu động có 3 đặc điểm chính: Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh 1. Vai trò của vốn lưu động Vốn lưu động được coi là nguồn lực quan trọng nhất trong doanh nghiệp. Vốn là tiền đề vật chất không thể thiếu đối với sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp.
Với sự cạnh tranh trong nền kinh tế ngày càng khốc liệt thì vốn là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. VLĐ là điều kiện tất yếu để quá trình sản xuất, tái sản xuất diễn ra. Để quá trình sản xuất diễn ra suôn sẻ, doanh nghiệp phải có đủ tiền vốn để đầu tư vào các hình thái khác nhau của VLĐ, khiến cho các hình thái có mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. VLĐ còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình hoạt động của hàng hoá, cũng như phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ bán hàng của doanh nghiệp.
Mặt khác vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh thời gian lưu thông có hợp lý hay không. Do đó thông qua tình hình luân chuyển Nguyễn Thị Phương Anh TCDNE-K14 Khóa luận tốt nghiệp 5 Học viện Ngân hàng VLĐ của doanh nghiệp, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá kịp thời đối với các mặt hàng mua sắm dự trữ sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Sử dụng vốn hợp lý sẽ cho phép khai thác tối đa năng lực hoạt động của TSLĐ góp phần hạ thấp chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tóm lại VLĐ có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, việc tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề sử dụng vốn lưu động là vấn đề cần thiết nhằm đưa ra những biện pháp tối ưu phục vụ cho chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp.
Phân loại vốn lưu động Để phân loại vốn lưu động ta có thể dựa vào một số chỉ tiêu sau: 1. Theo hình thái biểu hiện Theo cách phân loại này, VLĐ có thể phân thành 2 loại chính: – Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: Vốn bằng tiền: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ. Các khoản phải thu: chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng thể hiện ở số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng, cung cấp dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau.
Ngoài ra, với một số trường hợp còn có thể phải ứng trước tiền mua hàng cho người cung ứng, từ đó hình thành khoản tạm ứng. – Vốn về hàng tồn kho: Trong doanh nghiệp sản xuất vốn vật tư hàng hóa gồm: Vốn về vật tư dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm. Các loại này được gọi chung là vốn về HTK. Chức năng của vốn HTK là để đáp ứng kịp thời đầy đủ vật tư, hàng hóa cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thuận lợi, liên tục.
Trong khi Nguyễn Thị Phương Anh TCDNE-K14 Khóa luận tốt nghiệp 6 Học viện Ngân hàng đó bộ phận vốn bằng tiền có chức năng là phương tiện tài chính thỏa mãn kịp thời nhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp (nhu cầu tài chính) và tạo điều kiện giúp doanh nghiệp nắm bắt được cơ hội tốt trong kinh doanh. Ý nghĩa: Phương pháp phân loại này tạo điều kiện thuận lợi để đánh giá về mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Đồng thời hiểu rõ về từng hình thái cụ thể của vốn lưu động là rất cần thiết để đề ra biện pháp bảo quản, quản lý phù hợp.