Chương 1 LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ 1. Cơ sở lý thuyết về đầu tư 1. Đầu tư Theo quan điểm của chủ đầu tư: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để từ đó thu được số vốn lớn hơn số vốn bỏ ra, thông qua lợi nhuận. Theo quan điểm của xã hội (Quốc gia): Đầu tư là bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế - xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia.
Theo Luật Đầu Tư năm 2005 của nước CHXHCN Việt Nam thì “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”. Phân loại đầu tư 1. Theo ngành đầu tư * Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Bao gồm các lĩnh vực như: Giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điện, nước, trường học, bệnh viện, nhà trẻ, cơ sở văn hoá, thể thao, giải trí.
Ý nghĩa: Đối với các tỉnh mới thành lập và các tỉnh ở vùng sâu, vùng xa cơ sở hạ tầng rất yếu kém và mất cân đối nghiêm trọng. Cơ sở hạ tầng cần được đầu tư phát triển đi trước một bước, tạo tiền đề phát triển các lĩnh vực kinh tế khác. * Đầu tư phát triển công nghiệp: là hoạt động đầu tư nhằm xây dựng các công trình công nghiệp. Ý nghĩa: Trong công cuộc phát triển ở Việt Nam nói chung và Hậu Giang nói riêng hiện nay theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đầu tư phát triển công nghiệp là chính yếu, nhằm gia tăng giá trị sản lượng công nghiệp trong GDP.
* Đầu tư phát triển nông nghiệp: là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công trình nông nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Ý nghĩa: Hậu Giang từ xuất phát điểm là một tỉnh nông nghiệp, với lợi thế so sánh trong nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, thuỷ sản, cây ăn trái,. cho nên đầu tư phát triển nông nghiệp có ý nghĩa chiến lược lâu dài nhằm đảm bảo an toàn lương thực cho quốc gia, vùng và tỷ trọng giá trị sản lượng nông nghiệp hợp lý trong GDP. * Đầu tư phát triển dịch vụ: là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công trình dịch vụ (trung tâm thương mại, tài chính, khách sạn, du lịch, dịch vụ khác, .) Ý nghĩa: Trong bối cảnh quốc tế hoá nền kinh tế ngày càng cao, đầu tư vào dịch vụ là xu thế phát triển, nhằm gia tăng tỷ trọng giá trị dịch vụ trong GDP ở Hậu Giang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Theo nguồn vốn đầu tư Về hình thức huy động vốn cho hoạt động đầu tư phát triển của tỉnh được hình thành từ hai nguồn chính: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài nước. * Nguồn vốn trong nước: Vốn trong nước được hình thành từ nguồn tích luỹ nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Nguồn vốn trong nước có ý nghĩa quyết định trong công cuộc phát triển của tỉnh. Phát triển kinh tế là sự nghiệp “Tự thân vận động” của một tỉnh; đòi hỏi tỷ trọng tích luỹ nội bộ của nền kinh tế dành cho đầu tư ngày càng cao, đặc biệt đối với các tỉnh nghèo như Hậu Giang hiện nay.
Từ tích luỹ nội bộ của nền kinh tế tỉnh, trong đó vốn ngân sách có ý nghĩa quyết định cho đầu tư công ích; vốn của các thành phần kinh tế khác và trong dân rất quan trọng trong đầu tư kinh doanh. Nguồn vốn trong nước của tỉnh bao gồm các thành phần sau: Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, huy động trong dân, nguồn vốn do việc phát triển hệ thống tài chính trung gian. - Vốn ngân sách nhà nước: Nguồn vốn này được sử dụng đầu tư phát triển theo kế hoạch của Nhà nước, thường đầu tư vào những lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư nhiều và có tỷ lệ lợi nhuận thấp, nhưng rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các dự án đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, mà không có khả năng thu hồi vốn thì được quản lý, sử dụng phân cấp về chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển.
Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước, theo quy định của pháp luật. Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối với chương trình, dự án phát triển kinh tế thuộc ngân sách trung ương. - Vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước: Nguồn vốn này được dùng để đầu tư đối với: Các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các cơ sở kinh tế tạo việc làm, các dự án đầu tư quan trọng của Nhà nước trong từng thời kỳ (điện, nước, sắt thép, cấp thoát nước, .) Một số dự án khác của các ngành có khả năng thu hồi vốn, đã được xác định trong cơ cấu kế hoạch của Nhà nước. Việc bố trí đầu tư cho các dự án này do Chính phủ quyết định cụ thể cho từng đối tượng trong thời kỳ kế hoạch.
- Vốn tín dụng thương mại: Nguồn vốn này được dùng để đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, đổi mới kỹ thuật và công nghệ các dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ có hiệu quả; có khả năng thu hồi vốn và có đủ điều kiện vay vốn theo quy định hiện hành. Vốn tín dụng thương mại được áp dụng theo cơ chế tự vay, tự trả, thực hiện đầy đủ các thủ tục đầu tư và điều kiện vay - trả vốn. - Vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước: Nguồn vốn này được dùng để đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Doanh nghiệp phải sử dụng theo đúng các chế độ bảo quản lý vốn đầu tư hiện hành.
Doanh nghiệp thuộc tổ chức nào quản lý, thì tổ chức đó phải chịu trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ, bảo đảm sử dụng vốn theo đúng mục đích, có hiệu quả. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Ngoài ra, để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp Nhà nước có thể hợp tác liên doanh với nước ngoài. - Vốn huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân: Vốn do chính quyền các cấp huy động sự đóng góp của các tổ chức cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình và kết cấu hạ tầng tại địa bàn trên “Nguyên tắc tự nguyện”. Các nguồn vốn trên phải được quản lý công khai, có kiểm tra, kiểm soát và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ quy định của pháp luật.
* Nguồn vốn ngoài nước: Vốn ngoài nước là vốn hình thành không bằng nguồn tích luỹ nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Nguồn vốn nước ngoài là rất quan trọng trong công cuộc xây dựng phát triển Hậu Giang trở thành tỉnh công nghiệp. Dù dưới hình thức nào, việc sử dụng vốn nước ngoài đều đòi hỏi chi phí vốn trong nước kèm theo, do đó việc sử dụng có hiệu quả vốn nước ngoài là một đòi hỏi cấp thiết. Hiện tại, ở Hậu Giang nguồn vốn đầu tư của nước ngoài bao gồm các nguồn chủ yếu sau: - Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Đây là nguồn vốn mà bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất, kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, đặc biệt là trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu.
Do quyền lợi gắn chặt với dự án, họ quan tâm đến hiệu quả kinh doanh, nên có thể lựa chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề công nhân. Vì vậy, FDI ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư. Cụ thể là:. Đối với các nước đầu tư: Đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định.
Mặt khác, đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước. Đối với các nước nhận đầu tư: Hiện nay có hai dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài. Đó là dòng chảy vào các nước phát triển và các nước đang phát triển.
○ Đối với các nước phát triển: FDI có tác dụng giải quyết những khó khăn về kinh tế - xã hội như lạm phát, thất nghiệp,. Qua FDI, các tổ chức kinh tế nước ngoài mua lại những công ty, doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình cán cân thanh toán và tạo việc làm cho người lao động. ○ Đối với các nước đang phát triển: FDI giúp khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này. Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học - kỹ thuật mới.
Quá trình đưa công nghệ vào sản xuất giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các nước đang phát triển trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư, bên cạnh những ưu điểm thì FDI cũng có những hạn chế nhất định. Đó là: Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn về kinh tế và chính trị thì nhà đầu tư nước ngoài dễ bị mất vốn. Nếu nước sở tại không có một quy hoạch cụ thể và khoa học dẫn đến đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Tóm lại, FDI có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta nhanh chóng hội nhập với sự phát triển của thế giới và khu vực.