Chương 1 XUẤT KHẨU GẠO VÀ TÀI CHÍNH VỚI VIỆC HỖ TRỢ XUẤT KHẨU GẠO 1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ XUẤT KHẨU GẠO 1.1 Đặc điểm của thị trường xuất khẩu gạo Kể từ khi xuất hiện tiền tệ, thị trường thường được hiểu là nơi diễn ra sự mua, bán hàng hóa (bao gồm hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình – dịch vụ). Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, giao dịch mua bán hàng hóa có thể diễn ra mà không cần gắn với một địa điểm địa lý nào. Người ta có thể tiến hành các thỏa thuận về mua bán hàng hóa với nhau qua điện thoại, fax hay thư điện tử mà không cần gặp nhau tại một nơi chốn cụ thể. Hàng hóa có thể được vận chuyển từ nơi này đến nơi khác mà không cần lấy một địa điểm nào làm trung gian; hay như trên những thị trường kỳ hạn, những thỏa thuận về hàng hóa và luồng vận động của tiền tệ có thể độc lập với luồng vận động của hàng hóa.
Như thế, nói đến thị trường là nói đến nội dung kinh tế mà nó biểu thị chứ không phải hình dung nó như một nơi mà những nội dung này xảy ra. Phạm vi địa lý là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho chúng ta xác định thị trường mang tính chất địa phương, vùng, quốc gia hay quốc tế. Phần lớn thị trường nông sản trong các nước đang phát triển thông qua các quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán, định ra cho thị trường một vị trí địa lý cụ thể. Trên thị trường, giá cả hàng hoá giao dịch được xác định thông qua quan hệ cung cầu.
Nền kinh tế thị trường luôn tồn tại sự cạnh tranh của các nhà sản xuất, dựa vào hình thái, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền. Cũng như mọi thị trường hàng hoá khác, thị trường gạo hàng hoá cũng là nơi cung và cầu về gạo hàng hoá gặp nhau, là nơi hình thành nên giá cả của gạo hàng hoá. Đối với thị trường gạo xuất khẩu là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, giá cả thị trường bị ảnh hưởng bởi những nước xuất khẩu lớn, thường xuyên. Tuy nhiên, bên 8 cạnh những điểm chung giống như thị trường các loại hàng hóa khác, thị trường gạo chịu ảnh hưởng trực tiếp của đặc điểm sản xuất và tiêu dùng gạo.
Về sản xuất: Do sản xuất gạo mang tính thời vụ và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng vùng miền nên lượng cung về gạo phụ thuộc rất lớn vào thời vụ thu hoạch. Vào thời vụ thu hoạch, ở những vùng sản xuất gạo tập trung quy mô lớn như ở đồng bằng sông Cửu Long lượng lúa có thể tăng lên nhanh chóng (có thể từ 15 triệu tấn trở lên). Vì vậy, theo quy luật cung cầu giá lúa thường xuống thấp vào vụ thu hoạch. Đây là đặc điểm rất quan trọng của thị trường gạo đòi hỏi Nhà nước cần có những chính sách và giải pháp thích hợp để vừa đẩy mạnh xuất khẩu gạo, vừa bảo vệ được lợi ích của người nông dân trồng lúa.
Như vậy, về nguồn cung gạo phụ thuộc rất lớn vào thời vụ thu hoạch, nhưng nhu cầu tiêu dùng lại quanh năm nên để hoạt động xuất khẩu gạo chủ động nguồn hàng và đảm bảo chất lượng gạo thì các công đoạn như chế biến, bảo quản gạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động xuất khẩu gạo. Đặc điểm này đặt ra cho mỗi quốc gia cũng như từng địa phương có lợi thế về sản xuất gạo lớn quan tâm đầu tư không chỉ tăng năng suất, chất lượng gạo mà còn phải quan tâm đến đầu tư phát triển công nghệ chế biến và bảo quản gạo. Về tiêu dùng: gạo là mặt hàng tiêu dùng không thể thiếu đối với cuộc sống của người dân, người trồng lúa đồng thời là người tiêu dùng lúa do họ sản xuất ra. Hiện nay ở nước ta hầu hết các hộ gia đình nông dân ở các vùng miền khác nhau, kể cả vùng sản xuất gạo phân tán họ vẫn quan tâm đến việc sản xuất một lượng lương thực để tự cấp tự túc.
Là mặt hàng tiêu dùng thiết yếu nhưng trong xu hướng phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu tiêu dùng gạo của mỗi người dân có xu hướng giảm xuống. Vì vậy, ngay trong điều kiện được mùa thì nhu cầu tiêu dùng của mỗi người dân cũng không vì thế mà tăng theo. Tính đặc thù về nhu cầu tiêu dùng gạo của người dân trong nước cũng như thế giới đang có xu hướng chuyển nhanh sang tiêu dùng các loại gạo chất lượng cao, các loại gạo đặc sản. Như vậy, xu hướng tiêu dùng gạo (cầu về gạo) đang có sự thay đổi từ lượng sang chất.
Đặc điểm về cầu gạo đòi hỏi các chính phủ, nhất là những nước có truyền thống và nhiều lợi thế về sản xuất gạo như nước ta cần có chiến lược phát triển sản xuất gạo phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân 9 trong nước cũng như các nước trên thế giới mới có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu gạo đạt hiệu quả cao. Thị trường tiêu thụ gạo có thể được phân thành nhiều thị trường khác nhau, tuỳ thuộc vào tiêu chí lựa chọn và mục đích nghiên cứu. Để phục vụ mục tiêu nghiên cứu, chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu thị trường gạo chủ yếu là thị trường xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu gạo: là nơi diễn ra các giao dịch gạo hàng hoá đáp ứng nhu cầu ngoài nước.
Thị trường gạo thế giới (xuất khẩu) diễn ra chủ yếu ở châu Á, châu Phi và Mỹ La Tinh. Số lượng gạo nhập khẩu thường xuyên phân tán ra nhiều nước, hầu như không có nước nào hàng năm nhập khẩu đều đặn lượng gạo lớn. Do đó, cũng không có nước nhập khẩu cá biệt nào giữ vị trí áp đảo chi phối biến động cung cầu, giá cả trên thị trường thế giới. Mặt khác, đội ngũ các nước nhập khẩu gạo cũng không cố định qua các giai đoạn.
Lượng gạo nhập khẩu của toàn thế giới cũng như của từng nước thường xuyên biến động và mang tính thời vụ rõ rệt. Do kết quả thu hoạch mùa màng chi phối, có nước năm này nhập khẩu nhiều nhưng năm khác lại không nhập do thu hoạch trong nước tăng lên. Ở thị trường gạo thế giới, nhiều nước nghèo, nhất là Châu Phi, có nhu cầu tiêu dùng gạo rất lớn (còn hàng triệu người thiếu đói), nhưng nhập khẩu rất ít vì những khó khăn tài chính. Trong thị trường xuất khẩu, các khu vực, quốc gia khác nhau trên thế giới có nhu cầu tiêu dùng, điều kiện giao dịch khác nhau… Việc nắm bắt nhu cầu, điều kiện giao dịch trong từng khu vực, từng quốc gia rất quan trọng đối với chiến lược sản xuất trong nước.
Để nghiên cứu khả năng xuất khẩu trên thị trường gạo, chúng ta phải nghiên cứu năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Chính sự phân công lao động xã hội đã mở rộng trên phạm vi toàn thế giới, tự do thương mại quốc tế cùng với sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất, vận tải … đã hình 10 thành mạng lưới sản xuất và tiêu thụ toàn cầu. Ở góc độ toàn cầu, mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp là một giá trị, các giá trị này hợp lại với nhau sẽ tạo thành chuỗi giá trị toàn cầu. Có nhiều cách diễn tả chuỗi giá trị và tùy từng sản phẩm, dịch vụ, chuỗi giá trị có thể có cấu tạo và quy mô khác nhau.
Tuy nhiên, ở dạng khái quát và đơn giản nhất, chuỗi giá trị gồm các khâu liên tiếp sau: Nghiên cứu và phát triển; Thiết kế sản phẩm, dịch vụ; Sản xuất; Marketing và bán hàng; Phân phối; Dịch vụ khách hàng. Trong đó, giá trị gia tăng được tạo ra nhiều nhất là khâu: Nghiên cứu và phát triển; Marketing và bán hàng, còn khâu sản xuất có giá trị gia tăng là thấp nhất. Trong xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại, các nước đang tận dụng cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu vào những khâu tạo ra nhiều giá trị nhất. Các yếu tố cấu thành nên năng lực tham gia của gạo vào chuỗi giá trị toàn cầu bao gồm cả yếu tố trong chuỗi và ngoài chuỗi như: - Các yếu tố trong chuỗi: hộ nông dân, nhà chế biến, nhà phân phối, các công ty quảng cáo, … - Các yếu tố ngoài chuỗi: hệ thống luật pháp trong nước và quốc tế, các chính sách của chính phủ, hạ tầng cơ sở, đất đai, công nghệ,… Năng lực của các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thể hiện khả năng điều chỉnh linh hoạt các yếu tố đầu vào (giống, đất đai, lao động,…), các yếu tố đầu ra (chất lượng sản phẩm,…) cũng như mô hình tổ chức, quản lý để đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Để đẩy mạnh khả năng xuất khẩu gạo hay nâng cao năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu để có thể tiêu thụ được nhanh, nhiều và lợi ích mang lại là tốt nhất chúng ta phải nghiên cứu những biến động của thị trường cũng như các nhân tố tác động đến nó để có những giải pháp thích hợp. Nhân tố ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu gạo Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu gạo trong đó nổi bật nhất là các nhân tố sau đây: Sự phát triển của dân số: Có thể nói đây là nhân tố quan trọng nhất, tác động mạnh nhất đến nhu cầu xuất khẩu gạo. Bởi vì con người sinh ra trước hết phải ăn để 11 tồn tại, sau đó mới có thể thực hiện các việc khác được. Do dân số tăng nhanh nên nhu cầu về lương thực (kể cả gạo) cũng tăng lên rất nhanh.
Sự thay đổi trong tập quán tiêu dùng lương thực: đối với việc tiêu dùng lương thực, ngoài việc thoả mãn nhu cầu tiêu dùng về mặt vật chất, còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố văn hoá như quy định trong lễ giáo, thói quen tiêu dùng của các dân tộc. Cùng với sự phát triển của kinh tế, đặc biệt là phát triển của giao lưu kinh tế giữa các nước trong khu vực, tập quán tiêu dùng lương thực của con người cũng có những biến đổi hết sức sâu sắc. Các nước ở vùng ôn đới, người dân theo truyền thống chỉ dùng lúa mỳ làm lương thực, nhưng do tiếp xúc với nền văn minh Châu Á, họ cũng dần dần biết ăn và thích gạo ngày càng tăng. Ở Châu Mỹ, Châu Phi cũng có sự thay đổi tương tự, họ cũng biết ăn gạo và dùng gạo làm lương thực thay thế cho các loại lương thực khác.