Chương 1 đã trình bày lý do thực hiện đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gạo khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện hội nhập kinh tế” là cần thiết và cấp bách. Đề tài sẽ tập trung làm sáng tỏ những nội dung như: Có những tiêu chí nào dánh giá năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp; Thực trạng và môi trường ngành xuất khẩu gạo tại khu vực ĐBSCL; Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh và phân tích năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gạo khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ đó đề xuất những giải pháp nhằm giúp gia tăng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Để thực hiện được những mục tiêu trên cần có sự nghiên cứu các lý thuyết kình tế, các công trình nghiên cứu có liên quan để từ đó có sự kế thừa và phát triển, những nội dung đó sẽ được thực hiện trong Chương 2 của luận văn. 4 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Trong điều kiện hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, để tồn tại và đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp cần phải cạnh tranh gay gắt với không chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cố gắng trong hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh của mình để tồn tại và phát triển. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang phát triển nhanh nhiều công trình khoa học công nghệ tiên tiến ra đời tạo ra các sản phẩm tốt.1 Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trên thế giới Hiện nay, đã có khá nhiều nghiên cứu về năng lực cạnh tranh dưới những góc nhìn và phạm vi khác nhau tại nhiều nước trên thế giới. Các hướng nghiên cứu về NLCT qua nghiên cứu của tác giả được chia thành 5 Luận văn thạc sĩ hướng chính: (1)NLCT tiếp cận theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh truyền thống; (2) NLCT tiếp cận theo chuỗi giá trị; (3)NLCT tiếp cận theo định hướng thị trường; (4)NLCT tiếp cận theo lý thuyết nguồn lực DN; (5) NLCT tiếp cận theo lý thuyết năng lực Nghiên cứu NLCT của DN “lý thuyết, khung phân tích và mô hình” của tác giả Ambastha và Momaya (2004) đã đưa ra lý thuyết về NLCT ở cấp độ DN. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, NLCT của DN chịu ảnh hưởng của ba yếu tố: (1) Nguồn lực (nguồn nhân lực, cấu trúc, văn hóa, trình độ công nghệ, tài sản của DN); Quy trình (chiến lược, quy trình quản lý, quy trình công nghệ, quy trình tiếp thị); Hiệu suất (chi phí, giá cả, thị phần, phát triển sản phẩm mới).
Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở NLCT của DN nói chung mà chưa phân biệt về qui mô, địa lý, lĩnh vực hoạt động. Vì thế, nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế nếu vận dụng nghiên cứu cho DN ở những qui mô và lĩnh vực khác nhau. Ho (2005) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các hoạt động quản trị trong DN và NLCT. Tác giả đưa ra mô hình đo lường các hoạt động quản trị trong DN thông qua năm khía cạnh, (1) Cơ cấu hội đồng quản trị; (2) Cương vị quản lý; (3) Chiến lược lãnh đạo; (4) Sở hữu tập trung và các mối quan hệ vốn - thị trường; (5) Trách nhiệm xã hội có mối 5 quan hệ với NLCT của DN.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, có sự ảnh hưởng của hoạt động quản trị trong DN và NLCT, số điểm hoạt động quản trị trong DN càng cao thì đánh giá NLCT sẽ càng cao. Kết quả cũng chỉ ra rằng, mối quan hệ giữa hoạt động quản trị trong DN và NLCT sẽ cao hơn khi quản trị được đánh giá trên cơ sở toàn diện (tất cả năm thông số đặt cùng nhau) thay vì đánh giá riêng lẻ. Tuy nhiên, Ho (2005) chỉ tập trung vào các công ty kinh doanh hàng đầu bao gồm trong danh sách 500 công ty Fortune và danh sách 1.000 công ty Business Week. Nghiên cứu chỉ tập trung làm rõ mối quan hệ giữa NLCT và năng lực quản trị trong DN mà không xét đến những khía cạnh khác.
Do đó, vẫn còn tồn tại một khoảng trống nghiên cứu rõ ràng trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa quản trị của các DN ở các nước phát triển và khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường quốc tế. Nghiên cứu của Thompson, Strickland & Gamble (2007) đã đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT tổng thể của một DN dựa trên 10 yếu tố (Hình ảnh/uy tín, công nghệ, mạng lưới phân phối, khả năng phát triển và đổi mới sản phẩm, chi phí sản xuất, dịch vụ khách hàng, nguồn nhân lực, tình hình tài chính và trình độ quảng cáo, khả năng quản lý thay đổi). Tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ xác định các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của DN và đánh giá nó dựa trên phương pháp cho điểm nhằm so sánh năng lực giữa các DN mà chưa xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố này đến NLCT và hiệu Luận văn thạc sĩ quả kinh doanh của DN. Nghiên cứu của Onar & Polat (2010) về các nhân tố tác động tới NLCT và lựa chọn chiến lược kinh doanh của 104 DN niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Istabul - Thổ Nhĩ Kỳ thông qua phỏng vấn tổng giám đốc hoặc giám đốc nguồn nhân lực dựa trên bảng câu hỏi Likert 7 điểm.
Nghiên cứu này đã phân tích các nhân tố tác động đến NLCT của DN bao gồm (1) khả năng quản trị, (2) khả năng sản xuất, (3) khả năng bán hàng- marketing, (4) khả năng dịch vụ hậu cần logistics, công nghệ thông tin, (6) tài chính - kế toán, (7) nguồn nhân lực, (8) dịch vụ chăm sóc khách hàng, (9) cung ứng, (10) nghiên cứu và phát triển, (11) quản trị công nghệ, (12) đổi mới và (13) quan hệ khách hàng. Nghiên cứu này đã khẳng định quyết định chiến lược càng đúng đắn thì càng tạo ra khả năng cạnh tranh cao. Nghiên cứu của tác giả Sauka (2014) về “Đo lường NLCT của các công ty ở Latvia” Kết quả nghiên cứu đã xác định 7 nhân tố ảnh hưởng đến NLCT cấp công ty, bao gồm: (1) Năng lực tiếp cận các nguồn lực; (2) Năng lực làm việc của nhân viên; (3) Nguồn lực tài chính; (4) Chiến lược kinh doanh; (5) Tác động của môi trường; (6) Năng lực kinh doanh so với đối thủ; (7) Sử dụng các mạng lưới thông tin liên lạc. Nhược điểm chủ yếu của nghiên cứu này là chỉ sử dụng phương pháp thống kê và đưa ra nhận xét dựa trên giá trị trung bình.
Nghiên cứu chỉ xác định những yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của DN và đo lường mức độ của chúng thông qua khảo sát nhưng không đề cập đến mối quan hệ với NLCT của DN. Kết quả của nghiên cứu được đánh giá trong bối cảnh tại Latvian 6 bởi các công ty nói chung, mà không phân biệt lĩnh vực hoạt động nên kết quả sẽ hạn chế khi áp dụng vào các nước có nền kinh tế phát triển cũng như những công ty có ngành nghề khác.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam Bùi Đức Tuân (2011) trong luận án Tiến sỹ “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thủy sản Việt Nam”, Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả đã đánh giá được những yếu tố rào cản ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thủy sản Việt Nam hiện nay, bên cạnh một số lợi thế cạnh tranh nhất định so với các quốc gia khác trên thế giới như: lợi thế tự nhiên, sức cầu trong nước, môi trường cạnh tranh trong nước v.v…Nghiên cứu cho thấy những kết quả hiện tại của ngành mới chủ yếu đạt được trên cơ sở khai thác và tận dụng các lợi thế tự nhiên (ưu đãi về nguồn tài nguyên thiên nhiên, lợi thế về lao động) mà chưa được đặt trên một nền móng vững chắc của các lợi thế quốc gia khác (sức cầu trong nước, môi trường cạnh tranh trong nước, các ngành phụ trợ). Tác giả cũng đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thủy sản Việt Nam như: Chủ động phát huy khả năng của từng Doanh nghiệp trong việc tạo dựng NLCT chung cho ngành; Kết hợp hiện đại hóa các ngành hỗ trợ cho chế biến thủy sản như tăng cường đầu tư, ứng dụng công nghệ trong việc sản xuất nguyên liệu thủy sản, Đầu tư nâng Luận văn thạc sĩ cấp công nghệ đánh bắt và bảo quản thủy sản đáp ứng những nhu cầu và thông lệ quốc tế; Tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ khuyến khích cho ngành chế biến thủy sản và các ngành có liên quan qua việc hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ, tăng cường tuyên truyền việc áp dụng phương pháp quản lý GAP trong nuôi trồng thủy sản, Tăng cường liên kết vùng giữa người sản xuất và nhà chế biến thủy sản …[21] Nguyễn Thị Bình Minh (2015), nghiên cứu về ”Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xuất nhập khẩu nông lâm thủy sản”.
Trước những biến động khó lường trên thị trường thương mại – tiền tệ thế giới thời gian vừa qua, tình hình xuất khẩu nói chung và hàng nông lâm thủy sản nói riêng 8 tháng đầu năm 2015 đã bị ảnh hưởng khá nhiều. Trong bối cảnh đó, Chính phủ cũng đã có nhiều chính sách, giải pháp nhằm giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu. Đặc biệt, mới đây việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ”đề án phát triển các thị trường khu vực thời kỳ 2015 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, được kì vọng sẽ góp phần giúp kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng trong thời gian tới. Bài viết đã đưa ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng sụt giảm của một số mặt hàng xuất khẩu, trong đó có lĩnh vực nông lâm thủy sản thời gian qua, cụ thể là giá dầu thô giảm kéo theo chính sách duy trì giá trị đồng nội tệ thấp để thúc đẩy xuất khẩu của nhiều quốc gia, đồng thời dẫn đến hạn chế nhập khẩu.
Đặc biệt, các nước đang cạnh tranh xuất khẩu với Việt Nam thường có xu hướng thả nổi đồng tiền của mình hơn, trong khi Việt Nam với chính sách cân đối vĩ mô vẫn phải có những kiểm soát 7 tỷ giá giữa đồng đô la và đồng Việt Nam. Thứ hai là ảnh hưởng từ biến động nguồn cung. Xuất khẩu thủy sản và gạo giảm do nguồn cung của các nước xuất khẩu dồi dào, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường.