Chương 1 Cơ sở lý thuyết về vốn đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp công nghệ cao 1.1 Khái niệm về vốn đầu tư mạo hiểm 1.1 Vốn đầu tư mạo hiểm là gì? Khi tìm nguồn tài trợ cho bất kỳ một giai đoạn nào trong quá trình phát triển của mình, các doanh nghiệp công nghệ cao cũng phải xem xét mức độ rủi ro mà doanh nghiệp phải gánh chịu. Trong giai đoạn khởi sự, doanh nghiệp công nghệ cao phải đối mặt với rủi ro kinh doanh rất lớn cho nên doanh nghiệp phải tìm một nguồn tài trợ thích hợp nhằm để hạn chế rủi ro tài chính. Trong giai đoạn này tiếp cận vốn từ các tổ chức tín dụng là không khả thi vì trong giai đoạn mới khởi sự qui mô doanh nghiệp còn nhỏ, doanh nghiệp chưa có đủ tài sản để thế chấp và uy tín của doanh nghiệp chưa đủ để đáp ứng nhu cầu vay vốn. Và đồng thời nó cũng làm gia tăng chi phí của doanh nghiệp do gánh nặng chi trả lãi suất tiền vay.
Thêm nữa, doanh nghiệp cũng khó nhận được tài trợ bằng vốn cổ phần bởi trong giai đoạn này doanh nghiệp chưa đủ các tiêu chuẩn để phát hành chứng khoán ra công chúng. Vốn đầu tư mạo hiểm được xem là đáp án tối ưu cho bài toán về vốn của các doanh nghiệp công nghệ cao. Vốn đầu tư mạo hiểm là những khoản đầu tư cổ phần vào giai đoạn đầu của những doanh nghiệp mới khởi sự - khi ở giai đoạn này các doanh nghiệp công nghệ cao cần vốn để tài trợ cho việc phát triển sản phẩm mới hoặc ý tưởng về khoa học công nghệ. Đây là những 6 z khoản đầu tư có khả năng thu lời lớn để bù đắp cho mức độ rủi ro cao của các quỹ đầu tư.
Tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động của các quỹ, vốn đầu tư mạo hiểm có thể được hiểu theo hai cách khác nhau. Cách hiểu thứ nhất, theo nghĩa rộng, vốn đầu tư mạo hiểm là “nguồn tài chính cung cấp cho các công ty tư nhân dưới hình thức vốn cổ phần hoặc các khoản đầu tư gần giống như vốn cổ phần có thời hạn trên trung bình (3-5 năm)”. Khái niệm này được sử dụng phổ biến ở các nước châu Âu và Nhật Bản. Cách hiểu thứ hai, theo nghĩa hẹp, vốn đầu tư mạo hiểm là vốn cổ phần tư nhân trung hạn vào các công ty chưa trưởng thành.
Đây là những công ty đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển sản phẩm, phát triển năng lực sản xuất hay cung ứng dịch vụ, những doanh nghiệp mới khởi động, doanh nghiệp trẻ, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, tăng trưởng nhanh, có tính sáng tạo và dựa vào công nghệ. Cách hiểu này được sử dụng phổ biến ở Mỹ và một số nước đang phát triển. Vốn đầu tư mạo hiểm được đề cập trong suốt nội dung của đề tài này là vốn đầu tư mạo hiểm được hiểu theo nghĩa hẹp.2 Lịch sử hình thành và phát triển của vốn đầu tư mạo hiểm Lịch sử hình thành và phát triển của vốn đầu tư mạo hiểm được đánh dấu bằng việc thành lập hai công ty đầu tư mạo hiểm đầu tiên vào năm 1946 là công ty Nghiên cứu và Phát triển châu Mỹ (ARDC) và J. ARDC được thành lập bởi Ralph Flanders, Karl Compton và Georges Doriot, những người được mệnh danh là "cha đẻ của chủ nghĩa tư bản mạo hiểm".
Đây là hai công ty cung cấp vốn để thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân. Sau đó, các nhân viên cũ của ARDC tiếp tục thành 7 z lập một số công ty đầu tư mạo hiểm khác trong đó có Greylock Partners (được thành lập vào năm 1965 bởi Charlie Waite và Bill Elfers) và Morgan, Holland Ventures. Đây là làn sóng thành lập các quỹ đầu tư vốn mạo hiểm đầu tiên. Năm 1958 Hoa Kỳ thông qua luật đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ tạo điều kiên thuận lợi cho sự phát triển của một ngành công nghiệp mới, công nghiệp đầu tư mạo hiểm, với khả năng quản lý chuyên nghiệp.
Trong những năm 1960 và 1970, các hãng đầu tư mạo hiểm tập trung hoạt động đầu tư chủ yếu vào các công ty mới thành lập hoặc các công ty có ý định mở rộng sản xuất. Thông thường, các công ty này khai thác những bước đột phá trong công nghệ điện tử, y tế, xử lý dữ liệu. Kết quả là đầu tư vốn mạo hiểm đến gần như đồng nghĩa với tài trợ công nghệ. Công ty cung cấp những khoản vốn đầu tư mạo hiểm đầu tiên tại West Coast là công ty đầu tư Draper và Johnson, được hình thành vào năm 1962 bởi William Henry Draper III và Franklin P.
Năm 1962, Draper Bill và Paul Wythes thành lập Sutter Hill Ventures, và Pitch Johnson thành lập Asset Management Company. Người ta ghi nhận rằng doanh nghiệp đầu tiên được hỗ trợ bởi vốn mạo hiểm là Fairchild Semiconductor (sản xuất các mạch tích hợp thương mại thiết thực đầu tiên), được thành lập năm 1959, bởi quỹ đầu tư mà sau này trở thành Venrock Associates. Venrock được thành lập vào năm 1969 bởi Laurance S. Hình thức phổ biến trong những năm 1960 của nguồn cung vốn đầu tư mạo hiểm là từ các quỹ vốn tư nhân.
Các hãng tư nhân được tổ chức theo dạng công ty trách nhiệm hữu hạn để nắm giữ các khoản vốn đầu tư, trong đó các chuyên gia đầu tư hoạt động như là đối tác chung còn các nhà đầu tư là các đối tác trách nhiệm hữu hạn thụ động thì thu xếp vốn. Cơ cấu bồi thường, vẫn còn được sử dụng ngày nay, cũng xuất hiện với việc các thành viên góp 8 z vốn phải trả một khoản phí quản lý hàng năm là 1-2,5% và lãi suất thực hiện thường lên đến 20% lợi nhuận của công ty. Sự tăng trưởng quy mô cung cấp vốn đầu tư mạo hiểm được thúc đẩy bởi sự xuất hiện của các công ty đầu tư độc lập trên đường Sand Hill, bắt đầu với Kleiner, Perkins, Caufield and Byers và Sequoia Capital vào năm 1972. Trong suốt những năm 1970, một nhóm các hãng tư nhân, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực đầu tư mạo hiểm, được thành lập để rồi trở thành mô hình cho “leveraged buyout” và các hãng đầu tư mạo hiểm về sau này.
Năm 1973, với sự gia tăng về số lượng các công ty đầu tư mạo hiểm, các nhà đầu tư mạo hiểm hàng đầu đã thành lập hiệp hội đầu tư mạo hiểm Quốc gia hoa kỳ (NVCA). NVCA hoạt động như là nhóm thương mại bảo hộ cho ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm. Quy mô cung cấp vốn mạo hiểm phải chịu sự suy giảm tạm thời trong năm 1974, khi thị trường chứng khoán suy giảm và các nhà đầu tư trở nên cảnh giác với loại hình cấp vốn mới này. Sau thời kì khủng hoảng, năm 1978 quy mô cấp vốn mạo hiểm có được năm đầu tiên tăng trưởng mạnh, tăng khoảng 750 triệu USD.
Những thành công của các thương vụ cấp vốn mạo hiểm trong những năm 1970 và đầu những năm 1980 (ví dụ, Digital Equipment Corporation, Apple Inc, Genentech) đã tạo nên một sự gia tăng lớn của các quỹ cấp vốn đầu tư mạo hiểm. Từ chỉ một vài chục quỹ lúc bắt đầu của thập kỷ này, đã có hơn 650 quỹ vào cuối những năm 1980. Tuy nhiên, trong khi số lượng của các công ty tăng theo cấp số nhân thì vốn mạo hiểm được quản lý bởi các công ty này chỉ tăng 11% từ 28 tỷ USD lên 31 tỷ USD trong suốt thập kỷ này. Sự tăng trưởng của quy mô cấp vốn bị cản trở bởi lợi tức giảm mạnh và một số công ty cấp vốn đầu tư mạo hiểm bắt đầu công bố thua lỗ.
9 z Đến cuối những năm 1980, lợi nhuận từ vốn đầu tư mạo hiểm là tương đối thấp, đặc biệt là khi so với người anh em mới nổi “leveraged buyout” của nó. Tăng trưởng quy mô cấp vốn đầu tư mạo hiểm vẫn còn hạn chế trong suốt những năm 1980 và nửa đầu những năm 1990, tăng từ 3 tỷ USD vào năm 1983 lên trên 4 tỷ USD vào năm 1994. Sau quá trình đóng băng của các quỹ đầu tư mạo hiểm, các quỹ đầu tư mạo hiểm bắt đầu tập trung vào cải thiện hoạt động tại các công ty đầu tư theo danh mục của họ chứ không phải là liên tục đầu tư mới và thu được những kết quả khả quan. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới thành công và cuối cùng tạo ra sự bùng nổ của loại hình cấp vốn đầu tư mạo hiểm trong những năm 1990.
Cuối những năm 1990 là thời gian bùng nổ của vốn đầu tư mạo hiểm, như các công ty trên đường Sand Hill ở Menlo Park và Thung lũng Silicon được hưởng lợi từ sự đột biến lớn liên quan đến Internet non trẻ và công nghệ máy tính. Các đợt IPO của cổ phiếu công nghệ đều rất thành công và các khoản vốn đầu tư mạo hiểm đã gặt hái lợi nhuận lớn. Vụ sụp đổ thị trường Nasdaq và sụt giảm cổ phiếu công nghệ bắt đầu từ tháng 3 năm 2000 làm rung chuyển hầu như toàn bộ ngành công nghiệp cung ứng vốn đầu tư mạo hiểm. Trong hai năm sau đó, nhiều công ty đầu tư mạo hiểm đã bị buộc phải rút một tỷ lệ lớn các khoản đầu tư của họ và nhiều quỹ đã bị "chết ngụp" (giá trị đầu tư của quỹ dưới số vốn đầu tư).
Nhà đầu tư vốn mạo hiểm tìm cách để giảm các cam kết của họ cho các quỹ đầu tư mạo hiểm và trong nhiều trường hợp, tìm cách dỡ bỏ các cam kết hiện tại. Đến giữa năm 2003, quy mô cung ứng vốn đầu tư mạo hiểm đã co lại còn khoảng một nửa mức năm 2001. Tuy nhiên, theo khảo sát MoneyTree của PricewaterhouseCoopers cho thấy tổng vốn mạo đầu tư mạo hiểm được giữ ổn định ở mức năm 2003 cho tới quý hai của năm 2005. 10 z Mặc dù các năm bùng nổ sau đó chỉ bằng một phần nhỏ của đỉnh cao của vốn đầu tư mạo hiểm đã đạt được trong năm 2000, chúng vẫn đại diện cho một sự gia tăng trên mức đầu tư từ năm 1980 đến năm 1995.
Theo tỷ lệ phần trăm của GDP, vốn đầu tư mạo hiểm chiếm 0,058% năm 1994, đạt mức 1,087% (gần 19 lần mức năm 1994) vào năm 2000 và dao động từ 0,164% đến 0,182% trong năm 2003 và 2004. Sự hồi sinh của Internet từ năm 2004 đến năm 2007 đã giúp phục hồi môi trường vốn đầu tư mạo hiểm. Lịch sử phát triển của đầu tư mạo hiểm trên thế giới gắn liền với lịch sử phát triển của thị trường đầu tư mạo hiểm tại Mỹ.