Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận về đất, đất nông nghiệp 1.1 Khái niệm đất Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của một quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt của quá trình sản xuất nông nghiệp, là một trong những yếu tố quan trọng nhất của môi trường sống và địa bàn phân bố dân cư. Đất nông nghiệp (kí hiệu là NNP) là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [7] 1.
Phân loại đất nông nghiệp * Đất sản xuất nông nghiệp (SXN): là đất sử dụng vào đích sản xuất nông nghiệp, bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm. - Đất trồng cây hàng năm (CHN): là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá 1 năm, keert cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi. Loại này bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác. +) Đất trồng lúa (LUA): là ruộng, nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc trồng lúa kết hợp với sử dụng vào các mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính: bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại, đất trồng lúa nương.
- Đất chuyên trồng lúa nước (LUC): là ruộng lúa nước cấy trồng từ hai vụ lúa mỗi năm trở lên kể cả trường hợp luân canh với các cây hàng năm khác, có khó khăn đột xuất mà chỉ trồng cấy được một vụ hoặc phải bỏ hóa không quá một năm. 6 - Đất trồng lúa còn lại (LUK): là ruộng lúa nước không phải chuyên trồng lúa nước. + Đất cỏ dùng vào trong chăn nuôi (COC): là đất trồng cỏ hoặc đồng cỏ, đồi cỏ tự nhiên có cải tạo dể chăn nuôi gia súc. + Đất trồng cây hàng năm khác (HNK): là đất trồng cây hàng năm không phải đất trồng lúa và đất cỏ dùng vào chăn nuôi gồm chủ yếu để trồng mầu, hoa, cây thuốc, mía, đay, gai, cói, sả, dâu tằm, cỏ không để chăn nuôi, gồm đất bằng trồng cây hàng năm khác và đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác.
- Đất bằng trồng cây hàng năm khác (BHK): là đất phẳng ở đồng bằng, thung lũng, cao nguyên để trồng cây hàng năm khác. - Đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác (NHK): là đất nương, rẫy ở trung du và miền núi để trồng cây hàng năm khác. • Đất trồng cây lâu năm (CLN): là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch nhiều năm như: Thanh long, dứa, chuối, nho, v.: bao gồm đất nông trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác. + Đất trồng cây công nghiệp lâu năm: là đất trồng cây lâu năm có sản phẩm thu hoạch( không phải là gỗ) để làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp hoặc phải trải qua chế biến mới sử dụng được gồm chủ yếu là : Chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, ca cao, dừa, v.
+ Đất trồng cây ăn quả lâu năm (LNQ) là: đất trồng cây lâu năm có sản phẩm thu hoạch là quả để ăn tươi hoặc kết hợp chế biến. + Đất trồng cây lâu năm khác (LNK): là đất trồng cây lâu năm không phải đất trồng cây công nghiệp lâu năm và đất trồng cây ăn quả lâu năm gồm chủ yếu là đất trồng cây lấy gỗ, lấy bóng mát, tạo cảnh quan không thuộc đất lâm nghiệp, đất vườn xen lẫn nhiều loại cây lâu năm hoặc cây lâu năm xen lẫn cây hàng năm, Đất lâm nghiệp(LNP): là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng( đất đã có rừng bị khai thác, chặt phá, hỏa hoạn nay được đầu tư phục hồi rừng), đất để trồng 7 rừng mới( đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng hoặc đất đã giao để trồng rừng mới) bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. • Đất rừng sản xuất (RSX): là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng: bao gồm đất có rừng tự nhiên, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất. + Đất trồng rừng sản xuất(RSM): là đất rừng sản xuất nay có rừng mới trồng nhưng chưa đạt tiêu chuẩn rừng.
• Đất nuôi trồng thủy sản (NTS): là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thủy sản; bao gồm đất nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn, đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt. - Đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt (TNS): là đất chuyên nuôi, trồn thủy sản sử dụng môi trường nước ngọt. • Đất làm muối (LMU): là ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản xuất muối. • Đất nông nghiệp khác (NHK): là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất: xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo giống, con giống, xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp.
[8] Trong quá trình nghiên cứu tại xã Đào Mỹ, tôi được biết ở đây chỉ có các loại đất sau: Đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, thủy sản,và đất nông nghiệp khác. Vai trò và đặc điểm của đất nông nghiệp a. Vai trò của đất nông nghiệp Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biết và không thể thay thế được. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội.
Với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai.Trên phương diện này, đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động. Việc quản lý và sử dụng tốt đất đai sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế chính trị và xã hội. Chính sách đất đai đúng đắn có tác dụng quyết định đến sự thành công của các chính sách kinh tế khác.
Vì thế, người sử dụng đất cần phải bảo vệ và sử dụng đúng theo pháp luật quy định. Đặc điểm kinh tế của đất nông nghiệp *) Đất đai là sản phẩm của tự nhiên Đất đai là sản phẩm của tự nhiên. Đất đai xuất hiện và tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người. Tuy nhiên, thông qua lao động con người làm tăng giá trị đất đai và độ phì nhiêu của nó, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, vì tế việc quản lý và sử dụng đất đai tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, việc quản lý và sử dụng đất đai đã được khẳng định trong luật đất đai năm 1993 và luật đất đai được bổ sung và sửa đổi năm 2003: “ Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao cho các tổ chức, các đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. [3] Cũng theo luật quy định, người sản xuất được quyền sử dụng đất đai, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê. *) Diện tích đất là có hạn Diện tích có hạn trước hết là do giới hạn bởi mặt địa cầu, chỉ có khoảng 1/4 diện tích đất liền, còn khoảng 3/4 là diện tích của đại dương.
Diện tích đất có hạn do giới hạn trong từng phạm vi lãnh thổ của một quốc gia theo ranh 9 giới mà lịch sử đã định,và sự giới hạn về diện tích đất nông nghiệp còn thể hiện khả năng có hạn về khai hoang, tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể. Đặc điểm này ảnh hưởng đến việc mở rộng quy mô của sản xuất nông nghiệp. Quỹ đất đai dùng vào sản xuất nông nghiệp là có hạn và ngày càng trở lên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất đai của đô thị hóa, hiện đại hóa và xây dựng nhà ở để đáp ứng với dân số ngày càng tăng. Vì thế trong dài hạn đường cung đất đai là đường thẳng đứng, còn trong ngắn hạn đường cung đất đai vẫn là đường xiên tỷ lệ thuận theo giá đất (nó phản ánh mối quan hệ diện tích một loại đất nào đó có thể bán ra thị trường ứng với một giá đất nhất định ở những thời điểm xác định [3].
Đặc điểm này còn ảnh hưởng đến an ninh lương thực của mỗi quốc gia, vì thế cần có sự quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp sao cho hợp lý. *) Đất đai nông nghiệp nếu được sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của nó không ngừng tăng lên. Nét đặc biệt của đất đai là tư liệu sản xuất ở chỗ nó khác các tư liệu sản xuất khác ở quá trình sử dụng: các tư liệu sản xuất khác khi sử dụng sẽ bị hao mòn và hỏng đi, còn đất đai nếu sử dụng hợp lý sẽ tốt lên đem lại hiệu quả cho người sử dụng. Đặc điểm này là do đất có độ phì nhiêu.
Tùy theo mục đích khác nhau, người ta chi độ phì nhiêu của đất ra các loại sau: - Độ phì nhiêu nguyên thủy: được tạo ra do quá trình phong hóa tự nhiên. Độ phì nhiêu loại này gắn với thuộc tính lý- hóa- sinh của đất và môi trường xung quanh. - Độ phì nhiêu nhân tạo: có được là do kết quả của quá trình tác động có ý thức của con người , bằng cách áp dụng hệ thống canh tác hợp lý, có căn cứ khoa học để thỏa mãn mục đích của con người ( làm đất, chăm sóc, luân canh, xen canh cây trồng và tưới tiêu).