Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất vĩ mô Quy hoạch sử dụng đất có vai trò và chức năng vô cùng quan trọng, nó tạo ra những điều kiện cần thiết để tổ chức sử dụng đất có hiệu quả cao. Quy hoạch sử dụng đất có nhiệm vụ bố trí, sắp xếp lại nền sản xuất nông - lâm nghiệp, công nghiệp, các công trình xây dựng cơ bản, các khu dân cư và các công trình văn hoá phúc lợi một cách hợp lý hơn.
Đặc biệt trong sản xuất nông - lâm nghiệp quy hoạch sử dụng đất có nhiệm vụ quy hoạch sử dụng các loại đát nông - lâm nghiệp, các phương pháp thâm canh trong nông lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và các giải pháp bảo vệ đất chống xói mòn, bảo vệ rừng và môi trường sinh thái. Lịch sử về quy hoạch sử dụng đất đã trải qua hơn 100 năm nghiên cứu và phát triển, những thành tựu về phân loại đất, xây dựng bản đồ đất đã được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả. Hệ thống canh tác (Farming System) là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành trong nông trại, được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội, phù hợp với các mục tiêu mong muốn và nguồn lực của hộ (Shaner, Philip và Schemmedli, 1984). Hệ thống canh tác bao gồm các nguồn lực (đất, lao động, vốn) được sử dụng cho các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ để sản xuất các nông sản (lương thực, nguyên liệu thô, tiền mặt) trong nông trại với điều kiện nhất định (Wilem C.
Trên thế giới mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh (Shifiting cultivation), đó chính là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất đã được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 phát quang một thời gian, ngắn hơn thời gian bỏ hoá (Conklin, 1957).du canh được xem là phương thức canh tác cổ xưa nhất, nó ra đời vào cuối thời kỳ đồ đá mới, khi con người đã tích luỹ được những kiến thức ban đầu về tự nhiên. Tuy nhiên, về chiến lược phát triển kinh tế bền vững, du canh không được nhiều Chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng. Bởi du canh được coi như sự phí phạm về sức người, tài nguyên đất đai, là nguyên nhân chính gây nên xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hoá ngày càng nghiêm trọng. Sau du canh là sự ra đời của các phương thức Taugya (canh tác đồi núi) ở vùng nhiệt đới.
Hệ thống Taugya được nhiều người biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, ở một số nước các tên gọi được biểu thị cho sự đặc biệt của phương thức du canh. Ở Indonexia người ta gọi là Taubansang, ở Philipin người ta gọi là Kaigining, ở Malaixia người ta gọi là Ladang, ở Srilanka là China,. Theo Von Hesmen (1966, 1970) và King (1979), hầu hết các rừng trồng ở vùng nhiệt đới đều được hình thành từ phương thức này, đặc biệt là ở Châu Á và Châu Phi. Taugya được xem như một dấu hiệu báo trước cho các pphương thức sử dụng đất sau này (Nair, 1978).
Hệ thống canh tác Taugya được cải tiến, sửa đổi và dần được hoàn thiện, phổ biến trên toàn thế giới và được coi như là một hệ thống sử dụng đất có hiệu quả kinh tế lẫn môi trường sinh thái. Theo FAO, 1990 đến nay đã có 117 nước trên thế giới áp dụng phương thức này. Như vậy, có thể thấy du canh là một hệ thống canh tác, trong đó các loài cây nông nghiệp, lâm nghiệp sinh trưởng kế tiếp nhau. Còn Taugya bao gồm sự kết hợp đồng thời của cả hai loài cây trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành rừng trồng.
Đứng trên quan điểm quản lý, sử dụng đất thì cả hai quá trình trên đều có sự tương đồng là những cây nông nghiệp được sử LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 dụng một cách tốt nhất bởi độ phì của đất được tăng lên chính là nhờ thảm mục của cây gỗ. Theo FAO, hiện nay dân số thế giới đã trên 6 tỷ người, sử dụng 1,476 tỷ ha đất nông nghiệp. Trong đó đất có độ dốc trên 10o (đất đồi, núi) là 937 triệu ha chiếm 63,5% (Sheng, 1988; Hudson, 1988; Cent, 1989). Trong quá trình sử dụng con người đã làm thoái hoá khoảng 1,4 tỷ ha đất.
Theo Norman Mayer (1993), hàng năm trên toàn cầu mất khoảng 11 triệu ha đất. Theo FAO đến năm 1980 các loại hình quảng canh và du canh trên toàn thế giới chiếm đến 45% diện tích đất nông nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng xói mòn, thoái hoá đất làm giảm năng suất cây trồng. Do những yêu cầu của mình, con người ngày càng xâm hại đến rừng, để lấy lâm sản và đất canh tác đã làm cho diện tích đất rừng ngày càng thu hẹp, đe doạ đến môi trường sống.
Diện tích trồng rừng chỉ bằng 1/10 diện tích rừng bị mất, riêng ở Châu Á Thái Bình Dương trong thời gian từ năm 1976 - 1980 mất 9 triệu ha rừng. Cũng trong khoảng thời gian này ở Châu Phi mất khoảng 37 triệu ha rừng, Châu Mỹ mất khoảng 18,4 triệu ha rừng. Do tình trạng mất rừng mà hiện tượng xói mòn, sa mạc hóa ngày càng diễn ra nghiêm trọng (khoảng 875 triệu người phải sống ở những vùng sa mạc hóa). Sa mạc hóa đã làm mất đi mỗi năm khoảng 26 tỉ đô giá trị sản phẩm mỗi năm, hiện tượng xói mòn mỗi năm làm thế giới mất đi 12 tỉ tấn đất (ước tính mất khoảng 50 triệu tấn lương thực, hàng ngàn hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới đang bị cạn dần làm tuổi thọ của nhiều công trình thủy điện vùng này bị rút ngắn tuổi thọ) Theo dự báo của Tổ chức dân số thế giới, nếu tốc độ tăng trưởng dân số diễn ra như hiện nay thì đến năm 2025 dân số thế giới trên 8 tỷ người, tập trung ở các nước đang phát triển và kém phát triển.
Nếu mức tiêu thụ lương thực theo đầu người vẫn giữ nguyên như hiện nay thì sự tăng dân số thế giới đòi hỏi phải tăng năng suất lương thực thô thêm 2,6 tỷ tấn vào năm 2025, tức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 là tăng 57% so với năm 1990. Nhưng nếu khẩu phần được cải thiện cho thế giới người nghèo đói (ước tính 1 tỉ người) thì nhu cầu lương thực thế giới phải tăng gấp đôi, tức 4,5 tỉ tấn nữa. Nếu bằng con đường tăng năng suất cây trồng (năng suất các hạt ngũ cốc phải tăng trên 80% trong thời kỳ 1990-2025), theo kỷ yếu của FAO và tính toán của Norman E.BlorLaug thì nguồn lương thực hạt ngũ cốc thế giới chỉ mới đạt 3,97 tỉ tấn vào năm 2025. Trên thực tế thì đất đai mở mang có hạn và không thể đáp ứng được với tốc độ gia tăng dân số tự nhiên trên toàn cầu.
Vì vậy, để thoả mãn nhu cầu về lương thực ngày càng cao, con người tìm cách giải quyết theo một trong hai hướng chính đó là: Tăng năng suất cây trồng bằng việc tận dụng tối đa tiềm năng của các loại đất, thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích cach tác. Để làm được điều đó thì công tác điều tra, khảo sát, phân loại và đánh giá đất đai để tìm ra giải pháp sử dụng đất có hiệu quả nhất trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất hợp lí, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và đặc biệt là theo hương nghiên cứu đánh giá tổng hợp tiềm năng của đất đai cho các mục tiêu sử dụng bền vững đã trở thành một yêu cầu cấp bách. Công cuộc tìm giải pháp nhằm nâng cao sản lượng lương thực và khắc phục tình trạng thiếu hụt về lương thực đã thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu tìm biện pháp về sử dụng đất đai màu mỡ một trong những thành công của quá trình nghiên cứu đó là đã tìm ra Hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững và được trung tâm đời sống nông thôn Bapstic Mintanao Philippin tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ giữa những năm 1970 đến nay. - Mô hình SALT 1 (Sloping Agriculture Land Technology) với cơ cấu 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên (NN) + 50% cây nông nghiệp hàng năm.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Mô hình SALT 2 (Simple Agro - Livestock Technology) với cơ cấu 40% NN + 20% LN + 20% chăn nuôi + 20% làm nhà ở và chuồng trại. - Mô hình SALT 3 (Sustainable Agro - Forest Land Technology) với cơ cấu 40% NN + 60% LN. - Mô hình SALT 4 (Small Agro - Fruit Likelihood Technology) với cơ cấu 60% LN + 15% NN +25% cây ăn quả. Những mô hình canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc có sự phối hợp hài hoà giữa cây nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc đều dựa trên cơ sở nghiên cứu phân bố các loại đất một cách hợp lý, khoa học nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất, bền vững nhất về môi trường sinh thái.
Qua tổng kết các tài liệu nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch ở địa phương. Cho thấy, có rất nhiều cách tiếp cận: Tiếp cận Sodeo của Peter Hildebrand (Hildebrand,1981); Tiếp cận “nông thôn - trở lại - nông thôn” của Robert (Rhoades Rhoades, 1892); Tiếp cận của Robert Chambers; Tiếp cận “chẩn đoán và thiết kế của ICRAF” (Raintree); Tiếp cận của L. Nhìn chung, các phương pháp tiếp cận này đi theo hai hướng chính đó là: Tiếp cận từ trên xuống (Top - down approach) và tiếp cận từ dưới lên (Bottom - up approach). Cách tiếp cận thứ nhất ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, kém hiệu quả khi các chương trình thực hiện ở cấp vĩ mô và khi không có sự tham gia của cộng đồng dân cư.
Cách tiếp cận thứ 2 được hình thành khi các nhà xã hội học chứng minh sự “không thể thiếu được” vai trò của nông thôn trong quản lý tài nguyên cộng đồng (Robert Chambers). Từ đó “Quy hoạch trên cơ sở cộng đồng ” (Community - based Planning) bắt đầu xuất hiện. khi nghiên cứu hệ thống canh tác năm 1990, FAO đã xuất bản cuốn “Phát triển hệ thống canh tác”. Công trình đã chỉ rõ những ưu thế và hạn chế của 2 phương pháp tiếp cận.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.