Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) giữ vị trí then chốt trong hệ thống thuế của Việt Nam, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số thu ngân sách nhà nước (NSNN). Không chỉ tạo nguồn tài chính chủ lực cho bộ máy công quyền, thuế GTGT còn thúc đẩy minh bạch hóa giao dịch kinh tế, bắt buộc các chủ thể tuân thủ nghiêm ngặt chế độ hóa đơn, chứng từ, qua đó hỗ trợ công tác kiểm soát sản xuất, lưu thông, xuất nhập khẩu và bảo hộ hàng hóa nội địa. Cùng với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) mở rộng nhanh chóng về cả quy mô lẫn số lượng. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực có độ phức tạp cao: phần lớn mang quy mô nhỏ và vừa, vốn mỏng, trình độ quản trị và hạch toán kế toán hạn chế, ý thức tuân thủ pháp luật thuế chưa đồng đều, tiềm ẩn nhiều hành vi trốn thuế và gian lận hóa đơn.

Tại quận Bắc Từ Liêm (Hà Nội), Chi cục Thuế (CCT) quận Bắc Từ Liêm được thành lập theo Quyết định số 399/QĐ-BTC ngày 27/02/2014 của Bộ Tài chính, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/04/2014 sau khi chia tách địa giới hành chính từ huyện Từ Liêm cũ (theo Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27/12/2013 của Chính phủ). Trong giai đoạn đầu thành lập, đơn vị phải đối mặt với nhiều áp lực lớn: địa bàn rộng, tốc độ đô thị hóa nhanh, số lượng DNNQD gia tăng liên tục qua các năm, trong khi bộ máy cán bộ công chức bị phân tán và cơ sở vật chất ban đầu còn nhiều thiếu thốn. Thực tiễn công tác quản lý thu thuế GTGT phát sinh không ít hạn chế như sai sót trong kê khai, chậm nộp tờ khai, vi phạm hóa đơn, tỷ lệ kiểm tra doanh nghiệp tại trụ sở còn thấp và tình trạng nợ thuế kéo dài.

Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Trần Thị Hải Anh thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Giải pháp tăng cường quản lý thuế giá trị gia tăng với các DN ngoài quốc doanh tại CCT Quận Bắc Từ Liêm – Thành phố Hà Nội".

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác lập rõ ràng:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thuế GTGT, quản lý thuế GTGT và những đặc thù quản lý đối với khối DNNQD.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT đối với DNNQD tại Chi cục Thuế quận Bắc Từ Liêm trong giai đoạn 2014 – 2015; chỉ rõ những kết quả đã đạt được, những điểm hạn chế cùng nguyên nhân tồn tại.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thu thuế GTGT đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn quận trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động quản lý thuế GTGT đối với các DNNQD do Chi cục Thuế quận Bắc Từ Liêm trực tiếp quản lý. Phạm vi không gian nghiên cứu giới hạn trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn 2014 – 2015 (thời điểm sau khi quận được thành lập mới).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên bản chất của quản lý thuế: là hoạt động tổ chức thực thi pháp luật thuế của Nhà nước, tác động và điều hành hành vi nộp thuế của người nộp thuế (NNT). Tác giả làm rõ 3 đặc trưng cốt lõi của công tác quản lý thuế GTGT:

  • Quản lý bằng pháp luật: Mọi hoạt động của cơ quan thuế (CQT) và nghĩa vụ của NNT đều dựa trên các quy định pháp luật mang tính bắt buộc, quyền lực nhà nước, nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, bình đẳng và bảo đảm tập trung nguồn thu kịp thời cho NSNN.
  • Thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hành chính: Thể hiện qua hệ thống mệnh lệnh phục tùng theo thứ bậc cơ quan quản lý và quy trình, thủ tục thu nộp thuế, chứng từ ràng buộc trách nhiệm của NNT.
  • Hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ chặt chẽ: Đòi hỏi tính liên kết logic của hồ sơ chứng từ, điển hình là việc đối chiếu thuế GTGT đầu vào được khấu trừ với doanh thu đầu ra chịu thuế trong kỳ.

Về phía chủ thể nộp thuế, nghiên cứu phân tích 5 đặc điểm chi phối của khối DNNQD: vốn thuộc sở hữu tư nhân; chủ doanh nghiệp có trình độ chuyên môn, quản lý phần lớn dựa vào kinh nghiệm tự phát; ý thức chấp hành pháp luật chưa cao; số lượng đối tượng lớn, phân tán, dễ thay đổi ngành nghề và địa điểm kinh doanh; quy mô vốn nhỏ và vừa, linh hoạt nhưng khó kiểm soát dòng tiền và hóa đơn. Từ đó, tác giả xác định quy trình quản lý thuế GTGT toàn diện bao gồm 6 khâu nghiệp vụ: (1) Tuyên truyền, hỗ trợ NNT; (2) Quản lý NNT (đăng ký thuế, cấp mã số thuế - MST); (3) Quản lý kê khai thuế; (4) Quản lý hóa đơn, chứng từ; (5) Thanh tra, kiểm tra thuế; (6) Hoàn thuế; (7) Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế.

Cơ sở pháp lý được tác giả vận dụng xuyên suốt đề tài gồm:

  • Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 (quy định cơ chế NNT tự tính, tự khai, tự nộp);
  • Luật số 71/2014/QH13 (bỏ quy định nộp Bảng kê hóa đơn mua vào, bán ra từ kỳ tính thuế 01/01/2015);
  • Nghị định số 51/2010/NĐ-CP (quy định việc sử dụng hóa đơn đặt in, tự in của doanh nghiệp);
  • Nghị định số 91/2014/NĐ-CP và Thông tư số 151/2014/TT-BTC (nâng ngưỡng doanh thu áp dụng kê khai theo quý từ 20 tỷ đồng lên 50 tỷ đồng và chu kỳ ổn định 3 năm 2014 - 2016);
  • Thông tư số 119/2014/TT-BTC về cải cách thủ tục hành chính thuế;
  • Quy trình kiểm tra thuế 528 của Tổng cục Thuế.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng là sự kết hợp giữa các phương pháp định tính và định lượng mô tả: phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh (so sánh giữa các năm 2014 và 2015, so sánh giữa số dự toán pháp lệnh và số thực thu). Nguồn dữ liệu sử dụng là báo cáo tổng kết, danh mục biểu bảng thống kê nghiệp vụ chính thức do các Đội Kiểm tra thuế, Đội Tổng hợp - Nghiệp vụ - Kê khai và Đội Quản lý ấn chỉ thuộc Chi cục Thuế quận Bắc Từ Liêm lập trong 2 năm 2014 - 2015.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề chung về quản lý thuế GTGT đối với DNNQD

Chương mở đầu tập trung xây dựng cơ sở lý luận về thuế GTGT và vai trò của khối DNNQD trong nền kinh tế quốc dân. DNNQD được khẳng định là động lực quan trọng giúp khai thác tiềm năng tài nguyên, vốn và lao động nhàn rỗi trong xã hội, mở rộng quy mô sản xuất, thúc đẩy phát triển thị trường hàng hóa dịch vụ và tạo việc làm cho lượng lớn người lao động. Quan trọng nhất, khu vực này tạo nguồn thu thuế và phí dồi dào, đóng góp tỷ trọng ngày càng tăng vào NSNN.

Tác giả phân tích tính tất yếu của việc tăng cường quản lý thu thuế GTGT đối với DNNQD: do tính năng động nhưng thiếu tính ràng buộc chặt chẽ của các đơn vị ngoài quốc doanh, hành vi gian lận thuế diễn ra tinh vi thông qua việc giấu doanh thu, mua bán hóa đơn bất hợp pháp để chiếm đoạt tiền thuế đầu vào. Do đó, việc hoàn thiện quy trình hành chính từ khâu tuyên truyền chính sách, cấp mã số thuế, kiểm soát hóa đơn đặt in/tự in, thẩm định hồ sơ hoàn thuế đến biện pháp cưỡng chế thu nợ là điều kiện bắt buộc để ngăn chặn thất thoát NSNN và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm – Thành phố Hà Nội

Chương này trình bày chi tiết thực trạng tổ chức bộ máy và hoạt động nghiệp vụ thuế tại Chi cục Thuế quận Bắc Từ Liêm trong giai đoạn 2014 – 2015.

Về địa bàn hành chính, quận Bắc Từ Liêm có diện tích tự nhiên 4.335,34 ha, dân số thời điểm khảo sát là 320.414 người, gồm 13 phường trực thuộc. Về bộ máy quản lý, tính đến tháng 11/2015, Chi cục Thuế quận có tổng cộng 76 cán bộ công chức (34 nam, 42 nữ), gồm Chi cục trưởng (Phạm Đức Trung), 2 Chi cục phó (Phạm Thanh Phong, Nguyễn Thị Phượng) chỉ đạo 8 đội chuyên môn nghiệp vụ:

  • Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ NNT và ấn chỉ (5 cán bộ);
  • Đội Tổng hợp nghiệp vụ dự toán - Kê khai kế toán thuế và tin học (10 cán bộ);
  • Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ (5 cán bộ);
  • Đội Kiểm tra thuế (16 cán bộ);
  • Đội Trước bạ và thu khác (6 cán bộ);
  • Đội Hành chính - Nhân sự - Tài vụ (12 cán bộ);
  • Đội Kiểm tra nội bộ (4 cán bộ);
  • Đội Thuế liên phường xã (15 cán bộ).

Về số lượng và cơ cấu doanh nghiệp quản lý, số lượng DNNQD trên địa bàn tăng nhanh qua hai năm nghiên cứu:

STT Loại hình doanh nghiệp Năm 2014 (Số lượng) Tỷ trọng 2014 (%) Năm 2015 (Số lượng) Tỷ trọng 2015 (%)
1 Công ty TNHH 1.734 50,1 1.952 49,4
2 Công ty Cổ phần 1.672 48,2 1.911 48,3
3 Doanh nghiệp tư nhân 20 0,6 39 0,9
4 Hợp tác xã 29 0,8 31 0,8
5 Cơ sở SXKD khác 12 0,3 21 0,6
Tổng 3.467 100 3.954 100

Cơ cấu ngành nghề kinh doanh năm 2014 - 2015 tập trung chủ yếu vào sản xuất và thương nghiệp:

  • Ngành sản xuất: 872 DN (25,2%) năm 2014; 908 DN (22,9%) năm 2015.
  • Ngành thương nghiệp: 870 DN (25,1%) năm 2014; 963 DN (24,4%) năm 2015.
  • Ngành dịch vụ: 690 DN (19,9%) năm 2014; 780 DN (19,7%) năm 2015.
  • Ngành ăn uống: 575 DN (16,6%) năm 2014; 670 DN (16,9%) năm 2015.
  • Ngành vận tải: 460 DN (13,2%) năm 2014; 633 DN (16,1%) năm 2015.

Về kết quả thu ngân sách, số thu NSNN tại CCT Bắc Từ Liêm ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể: năm 2014 tổng thu thực hiện đạt 1.012.738 triệu đồng (đạt 133,7% dự toán pháp lệnh 756.900 triệu đồng), trong đó số thu từ khu vực NQD là 468.662 triệu đồng. Năm 2015, tổng thu đạt 1.770.xxx triệu đồng (đạt 107,5% dự toán), số thu từ khu vực NQD tăng vọt lên 746.057 triệu đồng (tỷ lệ tăng tổng thu nội địa giai đoạn 2014-2015 đạt 180,85%).

Về các khâu quản lý nghiệp vụ cụ thể:

  • Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT: Năm 2014 phát hành 30.440 lượt văn bản tuyên truyền; hỗ trợ trực tiếp 1.650 lượt người hỏi và gửi 31 văn bản trả lời đúng hạn 100%. Năm 2015, có 2.000 lượt người được hướng dẫn trực tiếp tại cơ quan thuế, 2.430 cuộc gọi giải đáp qua điện thoại và 34 văn bản trả lời chính sách đúng hạn 100%.
  • Công tác kê khai và ứng dụng tin học: Ứng dụng chương trình đăng ký cấp MST TINCC. Tính đến năm 2015, có 95% DN thực hiện kê khai thuế qua mạng internet (hướng tới mục tiêu 100% nộp thuế điện tử vào cuối năm 2016). Tuy nhiên, lỗi kê khai vẫn phổ biến: bỏ sót chỉ tiêu [22] (thuế GTGT còn được khấu trừ kỳ trước chuyển sang), kê khai hóa đơn sai thông tin mã số thuế, hạch toán hóa đơn đầu vào quá hạn quy định, không nộp phụ lục bán lẻ xe cơ giới...
  • Công tác quản lý hóa đơn: Thực hiện Nghị định 51/2010/NĐ-CP, doanh nghiệp chuyển hoàn toàn sang hóa đơn đặt in và tự in. Đến 25/12/2014 có 2.838 DN nộp thông báo phát hành; đến 31/12/2015 có 3.237 đơn vị phát hành và sử dụng hóa đơn đặt in, tự in. Năm 2015, phòng quản lý ấn chỉ lập biên bản xử phạt 98 đơn vị với 101 vụ vi phạm hóa đơn (mất, ghi sai liên, sử dụng bất hợp pháp), xử phạt 182,4 triệu đồng.
  • Công tác kiểm tra thuế tại trụ sở CQT:
Năm Tổng số hồ sơ khai thuế Số hồ sơ kiểm tra Tỷ lệ kiểm tra (%) Số hồ sơ điều chỉnh Số thuế điều chỉnh tăng (Triệu đồng) Số hồ sơ đề nghị kiểm tra tại DN
2014 4.124 3.432 83,22 98 3.840 88
2015 4.218 4.102 97,20 134 6.369 161
  • Công tác kiểm tra thuế tại trụ sở doanh nghiệp:
Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2014 Năm 2015
Tổng số DNNQD quản lý Doanh nghiệp 3.467 3.954
Số DN được kiểm tra tại trụ sở NNT Doanh nghiệp 126 252
Tỷ lệ số DN kiểm tra / Tổng số DN quản lý % 3,6 6,4
Số DN không có chênh lệch sau kiểm tra Doanh nghiệp 26 57
Tỷ lệ DN không chênh lệch / Số DN kiểm tra % 20,6 22,6
Số thuế truy thu và phạt sau kiểm tra Triệu đồng Chưa tổng hợp đủ 15.132
Số thuế đã thực nộp vào NSNN Triệu đồng Chưa tổng hợp đủ 7.319
Tỷ lệ số thuế đã nộp / Số thuế truy thu, phạt % 50,8 59,0

Đánh giá chung cho thấy tỷ lệ kiểm tra doanh nghiệp tại trụ sở đạt rất thấp (chỉ 6,4% năm 2015), trong đó tỷ lệ doanh nghiệp kiểm tra nhưng không có chênh lệch vi phạm còn cao (chiếm trên 22%), chứng tỏ công tác lập danh sách kiểm tra dựa trên phân tích rủi ro còn yếu.

Chương III: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm

Dựa trên định hướng cải cách hành chính và đổi mới công tác quản lý thuế, tác giả đề xuất 7 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ NNT: Đổi mới nội dung tuyên truyền theo hướng trực quan, đa dạng hóa các kênh hỗ trợ, giải đáp kịp thời vướng mắc khi có văn bản quy phạm pháp luật mới (như Thông tư 119/2014/TT-BTC, Thông tư 151/2014/TT-BTC).
  2. Tăng cường quản lý kê khai nộp thuế GTGT: Đẩy nhanh tiến độ phủ sóng kê khai và nộp thuế điện tử lên 100% doanh nghiệp; phối hợp với ngân hàng thương mại tháo gỡ tâm lý lo ngại về chữ ký số; nâng cấp phần mềm tự động phát hiện lỗi kê khai sai chỉ tiêu [22] và lỗi logic tờ khai.
  3. Tăng cường quản lý hóa đơn, chứng từ: Kiểm soát chặt chẽ quy trình thông báo phát hành hóa đơn tự in/đặt in; phối hợp liên ngành xác minh các doanh nghiệp thành lập nhưng không hoạt động thực tế nhằm triệt phá đường dây mua bán hóa đơn khống.
  4. Tăng cường kiểm tra thuế GTGT: Đổi mới phương thức kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế theo Quy trình 528; ứng dụng tiêu chí quản lý rủi ro để lựa chọn chính xác doanh nghiệp cần kiểm tra tại trụ sở, hạn chế kiểm tra dàn trải gây phiền hà cho doanh nghiệp tuân thủ tốt.
  5. Tăng cường quản lý hoàn thuế GTGT: Kiểm soát nghiêm ngặt hồ sơ đề nghị hoàn thuế; thực hiện kiểm tra trước - hoàn thuế sau đối với các doanh nghiệp mới thành lập hoặc có dấu hiệu rủi ro cao.
  6. Tăng cường quản lý nợ và cưỡng chế thuế GTGT: Phân loại cụ thể các nhóm nợ (nợ có khả năng thu, nợ khó thu, nợ chờ xử lý); ban hành thông báo đôn đốc kịp thời và áp dụng nghiêm các biện pháp cưỡng chế theo Luật Quản lý thuế (trích tài khoản ngân hàng, thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng).
  7. Các giải pháp khác: Kiện toàn bộ máy tổ chức, bố trí lại nhân lực giữa các đội nhằm giảm áp lực kiêm nhiệm cho cán bộ kiểm tra; nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực nghiệp vụ cho đội ngũ 76 cán bộ công chức Chi cục.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả và giá trị thực tế sau:

  • Đánh giá toàn diện thực trạng giai đoạn chia tách: Khóa luận phản ánh chính xác bức tranh quản lý thuế GTGT tại CCT Bắc Từ Liêm trong 2 năm đầu thành lập (2014 - 2015), làm rõ sự biến động về quy mô số lượng doanh nghiệp (tăng từ 3.467 lên 3.954 DN) và nguồn thu ngoài quốc doanh (tăng từ 468.662 triệu đồng lên 746.057 triệu đồng).
  • Tổng hợp số liệu thực chứng chi tiết: Văn bản đã hệ thống hóa các chỉ tiêu thực tế về tỷ lệ kiểm tra hồ sơ tại trụ sở CQT (đạt 97,2% năm 2015 với 4.102 hồ sơ), kết quả điều chỉnh tăng số thuế phải nộp 6.369 triệu đồng và số tiền phạt vi phạm hóa đơn (182,4 triệu đồng từ 98 đơn vị vi phạm năm 2015).
  • Đóng góp về mặt giải pháp ứng dụng: Khác với các nghiên cứu lý thuyết chung chung, hệ thống giải pháp của tác giả bám sát các bất cập thực tế tại CCT Bắc Từ Liêm: giải quyết tình trạng thiếu nhân lực kiểm tra, kiến nghị điều chỉnh bất cập của Thông tư 151/2014/TT-BTC về chu kỳ khai thuế theo quý 3 năm cố định và cơ chế phối hợp thông tin giữa Sở Kế hoạch & Đầu tư với cơ quan thuế để kiểm soát doanh nghiệp mới đăng ký.

Hạn chế và những vấn đề tồn tại

Dựa trên nội dung khóa luận, những hạn chế chính trong công tác quản lý và phạm vi nghiên cứu bao gồm:

  • Tỷ lệ kiểm tra doanh nghiệp tại trụ sở đạt mức rất thấp: Năm 2015 mới chỉ kiểm tra được 252/3.954 doanh nghiệp (đạt 6,4%). Trong số các doanh nghiệp được kiểm tra, có tới 22,6% doanh nghiệp không phát hiện chênh lệch thuế, phản ánh hạn chế lớn trong công tác phân tích rủi ro và lựa chọn đối tượng thanh tra.
  • Thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên trách: Chi cục chỉ có 76 cán bộ công chức (trong đó Đội Kiểm tra thuế có 16 cán bộ), khối lượng quản lý gần 4.000 doanh nghiệp dẫn đến tình trạng cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều đầu việc, không đủ thời gian đi sâu giám sát cơ sở.
  • Bất cập từ cơ chế chính sách pháp lý: Quy định thành lập doanh nghiệp thông thoáng nhưng thiếu cơ chế giám sát sau cấp phép của cơ quan đăng ký kinh doanh khiến nhiều đơn vị lợi dụng bỏ địa chỉ kinh doanh hoặc mua bán hóa đơn; quy định chu kỳ kê khai thuế quý cố định 3 năm (2014 - 2016) theo Thông tư 151/2014/TT-BTC còn mang tính cứng nhắc, gây khó khăn cho doanh nghiệp có biến động doanh thu lớn vào năm cuối chu kỳ.
  • Về phạm vi nghiên cứu của đề tài: Dữ liệu thực nghiệm của khóa luận mới chỉ bao quát trong 2 năm đầu sau chia tách huyện Từ Liêm (2014 - 2015), chưa có điều kiện khảo sát số liệu theo chuỗi thời gian dài hơn để đánh giá trọn vẹn tác động lâu dài của việc triển khai nộp thuế điện tử 100%.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Thuế, Tài chính công, Quản lý kinh tế và Kế toán làm tư liệu tham khảo về phương pháp phân tích thực trạng quản lý thu thuế tại một chi cục thuế quận huyện mới thành lập.
  • Cán bộ, công chức công tác tại các cơ quan thuế cấp cơ sở, đặc biệt là các đơn vị đang thực hiện tổ chức lại bộ máy hành chính, cần tư liệu đánh giá các chỉ tiêu nghiệp vụ: rà soát hóa đơn tự in/đặt in, phân loại rủi ro kiểm tra hồ sơ khai thuế tại bàn và quy trình cưỡng chế nợ thuế GTGT.
  • Các phần đáng tham khảo nhất gồm: hệ thống biểu mẫu phân tích cơ cấu doanh nghiệp theo ngành nghề/loại hình (Bảng 2.1, 2.2); bảng đối chiếu kết quả kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế và trụ sở người nộp thuế (Bảng 2.7, 2.9); các phân tích thực tế về các lỗi kê khai thuế GTGT thường gặp tại doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Câu hỏi thường gặp

1. Chi cục Thuế quận Bắc Từ Liêm được thành lập trên cơ sở pháp lý nào và quy mô nhân sự giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu?
Chi cục Thuế quận Bắc Từ Liêm được thành lập theo Quyết định số 399/QĐ-BTC ngày 27/02/2014 của Bộ Tài chính, chính thức hoạt động từ ngày 01/04/2014 trên cơ sở chia tách Chi cục Thuế huyện Từ Liêm cũ (theo Nghị quyết 132/NQ-CP ngày 27/12/2013). Tính đến tháng 11/2015, toàn chi cục có 76 cán bộ công chức (34 nam, 42 nữ), chia thành 8 đội chuyên môn nghiệp vụ.

2. Số lượng và cơ cấu loại hình DNNQD tại quận Bắc Từ Liêm trong giai đoạn 2014 – 2015 có biến động ra sao?
Tổng số DNNQD quản lý tăng từ 3.467 doanh nghiệp (năm 2014) lên 3.954 doanh nghiệp (năm 2015). Cơ cấu tập trung chủ yếu ở hai loại hình: Công ty TNHH (1.734 DN năm 2014; 1.952 DN năm 2015, chiếm 49,4%) và Công ty Cổ phần (1.672 DN năm 2014; 1.911 DN năm 2015, chiếm 48,3%). Doanh nghiệp tư nhân, Hợp tác xã và các cơ sở khác chỉ chiếm tỷ trọng dưới 2%.

3. Kết quả kiểm tra thuế tại trụ sở doanh nghiệp năm 2015 đạt được những con số cụ thể nào?
Năm 2015, Chi cục tiến hành kiểm tra tại trụ sở 252 doanh nghiệp (đạt tỷ lệ 6,4% tổng số DN quản lý). Trong đó có 57 DN không phát hiện chênh lệch (chiếm 22,6%). Tổng số tiền thuế truy thu và xử phạt sau kiểm tra là 15.132 triệu đồng, số thuế thực tế đã nộp vào NSNN là 7.319 triệu đồng (đạt tỷ lệ 59,0%).

4. Khóa luận chỉ ra những lỗi kê khai thuế GTGT phổ biến nhất của các DNNQD là gì?
Các lỗi thường gặp gồm: bỏ sót chỉ tiêu [22] (thuế GTGT còn được khấu trừ kỳ trước chuyển sang); kê khai hóa đơn đầu vào sai thông tin mã số thuế, tên hoặc địa chỉ đơn vị; bù trừ số thuế phát sinh âm kỳ này với nợ thuế chưa nộp của kỳ trước; không ghi chú thời hạn thanh toán đối với hóa đơn trên 20 triệu đồng; không nộp phụ lục PL01-3/GTGT đối với kinh doanh xe máy, ô tô; hạch toán hóa đơn đầu vào quá hạn quy định.

5. Điểm bất cập của quy định kê khai thuế theo quý quy định tại Thông tư 151/2014/TT-BTC được tác giả nêu ra là gì?
Thông tư 151 quy định doanh thu dưới 50 tỷ đồng được kê khai theo quý và ổn định chu kỳ 3 năm (2014 - 2016). Tác giả chỉ ra tính cứng nhắc: nếu 2 năm đầu doanh thu vượt 50 tỷ đồng nhưng năm cuối chu kỳ doanh thu tụt giảm dưới ngưỡng, sang chu kỳ mới doanh nghiệp buộc phải quay lại kê khai theo tháng, làm phát sinh khối lượng công việc hành chính và rút ngắn thời gian nộp thuế, ảnh hưởng đến dòng tiền lưu động của đơn vị.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Hải Anh đã phản ánh bức tranh thực tiễn về công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với khu vực ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế quận Bắc Từ Liêm trong 2 năm đầu đi vào hoạt động (2014 – 2015). Đề tài kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận quản lý thuế nhà nước với chuỗi số liệu nghiệp vụ phong phú về kê khai, quản lý hóa đơn, kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế và trụ sở doanh nghiệp. Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất xuất phát từ chính những vướng mắc nội tại của bộ máy chi cục và kẽ hở pháp lý, mang giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác nâng cao hiệu lực quản lý thuế trên địa bàn.