CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DNNQD 1. Khái quát chung về quản lý thuế GTGT đối với DNNQD 1. Quản lý thuế GTGT 1. Khái niệm quản lý thuế GTGT Quản lý thuế là việc tổ chức thực thi pháp luật thuế của Nhà nước, tức là, quản lý thuế được hiểu là hoạt động tác động và điều hành hoạt động đóng thuế của NNT.
Đặc điểm quản lý thuế GTGT Thứ nhất, Quản lý thuế là quản lý bằng pháp luật đối với hoạt động nộp thuế. Hoạt động quản lý của CQT cũng như việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức, cá nhân đều phải dựa trên cơ sở các quy định của các luật thuế với đặc trưng có tính bắt buộc cao và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước. Việc quản lý thuế bằng pháp luật đảm bảo sự thống nhất, minh bạch, công khai trong hoạt động quản lý của cơ quan Nhà nước. Qua đó, đảm bảo nguồn thu từ thuế vào NSNN được tập trung đầy đủ, kịp thời nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; đồng thời, đảm bảo sự điều tiết qua thuế đối với các tổ chức, cá nhân được công bằng, bình đẳng.
Thứ hai, Quản lý thuế được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hành chính. Nội dung của phương pháp hành chính trong quản lý thuế là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh, là sự thiết lập mối quan hệ giữa con người, giữa CQT với tổ chức, cá nhân trong xã hội; giữa CQT các cấp với nhau và với các cơ quan Nhà nước khác, trong các quan hệ đó thì cơ quan Nhà nước cấp dưới phải phục tùng mệnh lệnh của cấp trên theo thứ bậc hành chính, đối tượng bị quản lý (NNT) phải chấp hành mệnh lệnh của các cơ quan Nhà nước trong việc đảm bảo nguồn thu vào NSNN. Đồng thời, phương pháp hành chính trong quản lý thuế còn thể hiện trong quy trình, thủ tục thu, nộp thuế, 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó là trình tự các bước công việc phải tiến hành và các giấy tờ, tài liệu cần thiết ghi nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT. Do đó, hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo quy trình quản lý thuế rõ ràng, minh bạch, thủ tục thu, nộp thuế đơn giản.
Thứ ba, Quản lý thuế là hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ chặt chẽ. Đặc điểm này thể hiện ở chỗ các thủ tục hành chính và các chứng từ kèm theo phục vụ cho quản lý thuế có quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc nhau do các yêu cầu kỹ thuật của việc xác định số thuế phải nộp. Ví dụ: Tập hợp thuế GTGT đầu vào được khấu trừ trong kỳ tính thuế; xác định các khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế của DN. Vai trò của quản lý thuế GTGT Quản lý thuế là một trong các nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong đó có các cơ quan quản lý thuế.
Thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý thuế không chỉ đảm bảo sự vận hành thông suốt hệ thống cơ quan Nhà nước, mà có tác động tích cực tới quá trình thu, nộp thuế vào NSNN, cụ thể: - Quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào NSNN. Thông qua việc lựa chọn áp dụng các biện pháp quản lý thuế có hiệu quả, cũng như xây dựng và áp dụng quy trình, thủ tục về thuế hợp lý, CQT đảm bảo thu thuế đúng luật, đầy đủ và kịp thời vào NSNN. - Thông qua hoạt động quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy định về quản lý thuế. Những điểm còn bất cập trong chính sách thuế và khiếm khuyết trong các luật thuế được phát hiện trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý thuế.
Trên cơ sở đó cơ quan điều hành thực hiện pháp luật đề xuất bổ sung, sửa đổi các luật thuế. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thông qua quản lý thuế, Nhà nước thực hiện kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Quản lý thuế GTGT đối với DNNQD 1. Đặc điểm DNNQD chi phối quản lý thuế GTGT Mọi cơ sở SXKD đều lấy mục tiêu lợi nhuận làm thước đo hiệu quả.
Tuy nhiên ở nước ta phát triển sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy vị trí và vai trò của mỗi thành phần kinh tế có sự khác nhau. Khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, có nhiều DN kinh doanh phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, còn các CSSXKD thuộc thành phần kinh tế NQD chỉ lấy lợi nhuận là mục tiêu chính của hoạt động SXKD. Ngoài ra, khu vực kinh tế NQD ở nước ta còn có những đặc trưng riêng so với các khu vực kinh tế khác.
Những đặc trưng này ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế thường là những thách thức hơn là thuận lợi. Cụ thể như sau: a, Đặc điểm về sở hữu Đây là khác biệt cơ bản nhất giữa DNNQD với DN Nhà nước và thành phần kinh tế tư bản Nhà nước. Toàn bộ vốn, tài sản của DNNQD đều thuộc sở hữu tư nhân. Chủ DN hoặc chủ CSSXKD chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động SXKD và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quy định của Nhà nước hoặc từ cơ quan quản lý.
Do đó, họ luôn tìm mọi cách để có thể đạt được lợi nhuận cao nhất bằng cách trốn, tránh thuế bằng nhiều thủ đoạn tinh vi như giấu doanh thu, không xuất hóa đơn hoặc mua bán hóa đơn ma. Vì vậy việc quản lý thuế đối với DNNQD cần được cơ quan thuế chú trọng tập trung, quản lý chuyên nghiệp. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com b, Đặc điểm về trình độ văn hóa, trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ: So với những DN thuộc khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thì phần lớn những chủ DNNQD có trình độ văn hóa chưa cao, chưa được đào tạo chính quy về các nghiệp vụ quản lý, trình độ chuyên môn chủ yếu là tự phát hoặc theo kinh nghiệm. Vì vậy nhìn chung hiệu quả SXKD của DNNQD còn thấp, số đông các cơ sở kinh tế NQD hoạt động ở lĩnh vực thương mại dịch vụ, mục đích chính là mua đi bán lại để hưởng chênh lệch giá, một số lượng nhỏ hoạt động ở lĩnh vực sản xuất thì đa số máy móc được sử dụng là những thiết bị cũ kỹ, trình độ công nghệ thấp, trình độ quản lý không cao do đó năng suất lao động thấp, chất lượng hàng hóa sản xuất không cao.
c, Đặc điểm về ý thức tuân thủ pháp luật: Do số đông chủ DN có trình độ văn hóa chưa cao, do đó nhận thức về pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng rất thấp, biểu hiện rõ nhất là số đông cơ sở kinh doanh không thực hiện tốt chế độ kế toán, không thực hiện kê khai theo quy định.Về nguyên tắc tiến hành SXKD, CSSXKD phải tự nghiên cứu tìm hiểu các quy định của pháp luật về kinh doanh, nghĩa vụ thuế,. nhưng đối với các DNNQD thì ngược lại, họ cứ thành lập cơ sở kinh doanh, tiến hành kinh doanh đến khi kiểm tra phát hiện mới thực hiện nghĩa vụ thuế. Nhiều cơ sở kinh doanh khi phát hiện, bị xử lý lại đổ lỗi cho CQT không hướng dẫn. Có một số DNNQD hiểu biết về pháp luật nhưng không vì thế mà thực hiện nghiêm túc các chính sách chế độ mà luôn lợi dụng những sơ hở của chính sách, chế độ để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế.
d, Đặc điểm về số lượng đối tượng Số lượng các DNNQD rất lớn, hoạt động sản xuất, kinh doanh ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản xuất, gia công, chế biến, xây dựng, vận 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.đến các loại hình thương nghiệp, dịch vụ và được trải rộng trên khắp các địa bàn trong cả nước. Bên cạnh một bộ phận trực tiếp kinh doanh là người chủ của các DN nhỏ và vừa, đã hoạt động lâu năm, thu nhập chính từ hoạt động kinh doanh, còn có một bộ phận không nhỏ cán bộ công nhân viên nghỉ hưu, nghỉ mất sức, tranh thủ kinh doanh thêm, những đối tượng chính sách như thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng tham gia kinh doanh để cải thiện đời sống.Mặt khác, do đặc điểm nhỏ gọn, năng động, nhạy bén nên rất dễ thay đổi các hình thức hoạt động, dễ di chuyển đến các địa điểm khác nhau cho nên việc quản lý đối tượng thêm khó khăn, phức tạp. e, Đặc điểm về quy mô vốn Tính chất qui mô vốn của các DN NQD thường là nhỏ, vốn ít, cơ cấu đơn giản, gọn nhẹ linh hoạt, số lượng công nhân ít và họ thường phải đảm nhận công việc theo kiểu đa năng, giúp cho chi phí nhân công thấp, tạo lợi thế cạnh tranh về giá và sản phẩm cuối cùng. Các DN này thường hoạt động ở các ngành thường có tính năng động cao nên dễ dàng chuyển hướng kinh doanh, dễ thích nghi với hoàn cảnh và yêu cầu của nền kinh tế.
Điều này sẽ dẫn đến cơ quan thuế rất khó kiểm soát. 2 Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đối với nền kinh tế quốc dân DNNQD ra đời và tồn tại trong nền kinh tế quốc dân đã đem lại rất nhiều lợi ích kinh tế xã hội trong mỗi quốc gia: Góp phần khai thác những tiềm năng to lớn của nền kinh tế. Nước ta là nước có nền kinh tế đang trên đà phát triển, tiềm năng của nền kinh tế (như tài nguyên, sức lao động, thị trường,.) còn dồi dào nhưng chưa được khai thác triệt để chủ yếu do lực lượng sản xuất còn thấp. Khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế cá thể chưa đủ sức khai thác được hết những tiềm năng này.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do vậy DNNQD ra đời sẽ khai thác hết được những tiềm năng chưa được khai thác.