Tổng quan nghiên cứu

Quản lý rừng bền vững tại khu vực Tây Nguyên đang đối mặt với nhiều thách thức lớn khi diện tích đất lâm nghiệp tại xã Đạ Tông, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng chiếm tới 84,81% tổng diện tích tự nhiên, tương đương 12.173 ha. Khu vực này đóng vai trò phòng hộ xung yếu cho lưu vực sông Sêrêpốk và giáp ranh Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà. Tuy nhiên, áp lực dân số với tỷ lệ tăng tự nhiên 1,9% cùng sự phụ thuộc sinh kế của các cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa như Cil và M'Nông đã làm gia tăng các xung đột tài nguyên nghiêm trọng. Mức thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 6,1 triệu đồng mỗi năm, dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy và khai thác lâm sản trái phép.

Đề tài tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để chuyển hóa người dân từ đối tượng tác động tiêu cực thành chủ thể tích cực trong công tác bảo vệ rừng. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm đánh giá toàn diện thực trạng các mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng, phân tích các rào cản kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy mô hình đồng quản lý. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác định tại xã Đạ Tông trong khung thời gian từ năm 2015 đến tháng 9 năm 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ 8.368 ha rừng phòng hộ và 1.080 ha rừng đặc dụng, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại các địa bàn miền núi khó khăn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Quản lý rừng dựa vào cộng đồng theo định hướng của Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc kết hợp với mô hình Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên. Khung phân tích mức độ tham gia của Carter và lý thuyết hành vi tham gia của Meister được sử dụng để lượng hóa các mức độ đóng góp của người dân từ thụ động sang chủ động. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm khái niệm cộng đồng dân cư thôn theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, cơ chế quyền hưởng dụng tài nguyên theo Luật Đất đai năm 2003 và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ. Bên cạnh đó, nghiên cứu bám sát định hướng của Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 với mục tiêu nâng diện tích rừng cộng đồng toàn quốc lên 4 triệu ha, phân định rõ bốn hình thức tham gia chính: đóng góp lao động, chia sẻ chi phí, thực hiện trách nhiệm tuần tra và chia sẻ quyền ra quyết định.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ số liệu thống kê địa chính của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đam Rông với tổng diện tích tự nhiên 14.423,44 ha và báo cáo vi phạm lâm luật giai đoạn 2015-2018 của Hạt Kiểm lâm Đam Rông. Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu áp dụng phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia tại ba thôn điểm đại diện: thôn Mê Ka với 162 hộ gia đình, thôn Đạ Nhinh 1 với 186 hộ gia đình và thôn Đạ Nhinh 2 với 123 hộ gia đình.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để phân loại hộ gia đình theo ba nhóm kinh tế: khá, trung bình và nghèo, từ đó chọn ngẫu nhiên 3 đến 5 hộ mỗi nhóm để phỏng vấn sâu qua bảng hỏi bán định hướng. Nghiên cứu cũng thực hiện phỏng vấn chuyên gia với 9 cán bộ quản lý thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pốk, Hạt Kiểm lâm và chính quyền xã, kết hợp 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung gồm 5 đến 7 già làng, trưởng bản có uy tín. Phương pháp phân tích thống kê mô tả và kỹ thuật ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức được lựa chọn nhằm bóc tách chính xác mối quan hệ giữa sinh kế hộ gia đình và mức độ gắn kết với tài nguyên rừng trong suốt tiến trình nghiên cứu từ năm 2015 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực trạng quản lý rừng tại xã Đạ Tông cho thấy toàn bộ 12.725 ha diện tích quy hoạch lâm nghiệp đang do 7 đơn vị chủ rừng quản lý, trong đó Ban quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pốk quản lý 10.614,32 ha, Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà quản lý 1.080 ha và 5 doanh nghiệp tư nhân quản lý 462,06 ha. Người dân bản địa không sở hữu đất rừng pháp lý mà tham gia bảo vệ thông qua hợp đồng giao khoán hàng năm. Trên toàn xã đã thành lập được 25 tổ nhận khoán bảo vệ rừng với 525 thành viên. Tại 3 thôn nghiên cứu điểm, các chủ rừng đã giao khoán 4.823,76 ha cho 226 hộ gia đình sinh hoạt trong 16 nhóm hộ, đạt tỷ lệ tham gia là 47,98% trên tổng số 471 hộ dân.

Tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng diễn biến phức tạp với tổng cộng 43 vụ việc được ghi nhận trong giai đoạn 2015-2018. Đỉnh điểm là năm 2016 đã xảy ra 17 vụ phá rừng gây thiệt hại 9,04 ha rừng và làm thất thoát 13,65 m3 gỗ. Năm 2017 ghi nhận 2 vụ cháy rừng gây thiệt hại nặng nề với 17,93 ha rừng trồng. Tổng thiệt hại do 4 vụ cháy rừng trong cả giai đoạn lên tới 21,46 ha với giá trị ước tính trên 112 triệu đồng. Về công tác xã hội hóa, chính quyền địa phương đã triển khai xây dựng thành công 9 bản quy ước bảo vệ rừng tại các thôn bản, tổ chức 27 buổi tuyên truyền trực tiếp cho 2.572 lượt người tham gia và vận động được 891 cá nhân ký cam kết bảo vệ tài nguyên rừng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các vi phạm bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa nhu cầu sinh kế và quỹ đất sản xuất nông nghiệp vốn chỉ chiếm 13,97% diện tích toàn xã. Đất trồng cây công nghiệp lâu năm như cà phê đạt 1.208,53 ha tạo ra sức ép chuyển đổi đất rừng tự nhiên rất lớn. Thu nhập bình quân 6,1 triệu đồng mỗi năm của người dân địa phương chỉ bằng 58,1% so với mức bình quân 10,5 triệu đồng của huyện Đam Rông, khiến tiền công nhận khoán bảo vệ rừng chưa thực sự trở thành nguồn thu nhập đủ mạnh để thay đổi hành vi khai thác tài nguyên.

Kết quả khảo sát đội ngũ cán bộ chuyên môn chỉ ra rằng 63,3% ý kiến khẳng định việc xác định đúng mối quan hệ dân - rừng là ưu tiên số một, trong khi 36,7% nhận định điểm yếu lớn nhất của hệ thống quản lý hiện nay là sự thiếu hụt kiến thức quản lý rừng cộng đồng. Dữ liệu nghiên cứu có thể được minh họa sinh động qua biểu đồ cơ cấu thu nhập hộ gia đình và đồ thị cột phản ánh biến động số vụ phá rừng giai đoạn 2015-2018. Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu tại vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, khẳng định phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng chỉ phát huy hiệu quả khi quyền lợi sinh kế của người dân được tích hợp đầy đủ vào cơ chế đồng quản lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế giao khoán và minh bạch hóa chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Ban quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pốk phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Đam Rông rà soát lại 4.823,76 ha rừng đã giao khoán, chuyển đổi kỳ thanh toán tiền công từ theo quý sang theo tháng, phấn đấu nâng tỷ lệ hộ gia đình tham gia nhận khoán tại các thôn vùng đệm từ 47,98% lên 75% trong giai đoạn 2019-2022.

Thứ hai, phát triển mô hình nông lâm kết hợp nâng cao sinh kế bền vững. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đạ Tông hướng dẫn người dân kỹ thuật trồng xen cây bản địa, phát triển dược liệu dưới tán rừng và quy hoạch lại 2.688,7 ha diện tích gieo trồng nông nghiệp, hướng tới mục tiêu tăng thu nhập bình quân đầu người từ 6,1 triệu đồng lên 12 triệu đồng mỗi năm vào năm 2023.

Thứ ba, chuẩn hóa năng lực và trang thiết bị cho lực lượng bảo vệ rừng cấp cơ sở. Hạt Kiểm lâm huyện Đam Rông tổ chức định kỳ 4 khóa tập huấn chuyên môn mỗi năm cho 525 thành viên thuộc 25 tổ nhận khoán, trang bị phương tiện chữa cháy chuyên dụng nhằm giảm 100% số vụ cháy rừng và kéo giảm trên 50% số vụ khai thác gỗ trái phép từ năm 2020.

Thứ tư, thể chế chế tài và giám sát thực thi 9 bản quy ước thôn bản. Ủy ban nhân dân xã Đạ Tông cùng các già làng, trưởng bản lồng ghép hương ước truyền thống của người Chil và M'Nông vào các chế tài xử phạt hành chính, tăng cường vai trò kiểm tra chéo giữa các dòng họ để ngăn chặn triệt để tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp giai đoạn 2019-2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng kiểm lâm: Cán bộ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng và Hạt Kiểm lâm huyện Đam Rông sử dụng tài liệu làm căn cứ thực tế để đánh giá hiệu lực của Chỉ thị số 30-CT/TU và hoàn thiện phương án tuần tra bảo vệ rừng phòng hộ xung yếu.

Ban quản lý các khu rừng đặc dụng và phòng hộ: Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà và Ban quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pốk áp dụng trực tiếp quy trình kiện toàn 25 tổ nhận khoán và cơ chế ký hợp đồng khoán bảo vệ rừng với cộng đồng dân tộc thiểu số.

Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Giảng viên và học viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng tại các trường đại học tham khảo khung lý thuyết, công cụ Đánh giá nông thôn có sự tham gia và phương pháp phân tích kinh tế hộ gia đình vùng cao.

Các tổ chức phi chính phủ và dự án phát triển cộng đồng: Chuyên gia thuộc các dự án lâm nghiệp xã hội và phát triển sinh kế miền núi khai thác các số liệu thực chứng về tập quán canh tác của người Cil, M'Nông để thiết kế các chương trình can thiệp nông lâm kết hợp phù hợp văn hóa bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đóng vai trò gì tại xã Đạ Tông? Mô hình này là giải pháp trọng yếu giúp bảo vệ 12.173 ha đất lâm nghiệp trong bối cảnh lực lượng kiểm lâm chuyên trách mỏng. Thông qua việc thành lập 25 tổ nhận khoán với 525 người dân địa phương tham gia, công tác tuần tra và kiểm soát diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn sông Sêrêpốk đạt hiệu quả cao hơn nhiều so với hình thức quản lý đơn phương của nhà nước.

Tại sao người dân địa phương chưa được giao quyền sở hữu rừng chính thức? Theo quy định pháp luật và hiện trạng phân bổ, toàn bộ 12.725 ha rừng trên địa bàn xã Đạ Tông thuộc quyền quản lý của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, Ban quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pốk và 5 doanh nghiệp tư nhân. Do đó, người dân chỉ tham gia quản lý tài nguyên thông qua hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng hàng năm chứ chưa được cấp quyền sử dụng đất rừng lâu dài.

Đặc điểm kinh tế nào ảnh hưởng lớn nhất đến sự tham gia bảo vệ rừng của người dân? Thu nhập bình quân đầu người thấp ở mức 6,1 triệu đồng mỗi năm và sự thiếu hụt đất sản xuất nông nghiệp khi toàn xã có tới 1.208,53 ha đất cây lâu năm là rào cản lớn nhất. Áp lực mưu sinh buộc người dân phải tìm kiếm nguồn thu từ rừng, dẫn đến 43 vụ vi phạm lâm luật trong giai đoạn 2015-2018.

Quy ước quản lý bảo vệ rừng thôn bản mang lại hiệu quả thực tế ra sao? Xã đã ban hành thành công 9 bản quy ước thôn bản với sự thống nhất của già làng và trưởng thôn. Kết hợp cùng 27 buổi họp dân thu hút 2.572 lượt người tham gia và 891 bản cam kết, các quy ước tạo ra áp lực đạo đức cộng đồng giúp nâng cao ý thức chấp hành pháp luật lâm nghiệp rõ rệt.

Làm thế nào để nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng? Giải pháp đột phá là kết hợp chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP với việc hỗ trợ phát triển mô hình trồng cây ăn quả, dược liệu dưới tán 11.932,23 ha rừng tự nhiên. Điều này tạo nguồn sinh kế ổn định, giúp cộng đồng gắn bó quyền lợi lâu dài với việc bảo vệ rừng.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý trên 12.173 ha đất lâm nghiệp tại xã Đạ Tông với 7 đơn vị chủ rừng nhà nước và doanh nghiệp.
  • Phân tích rõ kết quả giao khoán 4.823,76 ha rừng cho 226 hộ gia đình thuộc 16 nhóm hộ tại 3 thôn điểm, đạt tỷ lệ tham gia 47,98%.
  • Nhận diện chính xác căn nguyên của 43 vụ vi phạm lâm luật giai đoạn 2015-2018 xuất phát từ áp lực sinh kế và thu nhập bình quân 6,1 triệu đồng mỗi năm.
  • Khẳng định vai trò nòng cốt của 25 tổ nhận khoán và 9 bản quy ước thôn bản trong việc ngăn chặn nguy cơ cháy và phá rừng phòng hộ đầu nguồn.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp chi trả dịch vụ môi trường rừng với phát triển mô hình nông lâm kết hợp nâng cao sinh kế.

Luận văn đã đóng góp hệ thống cứ liệu khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc hoàn thiện mô hình đồng quản lý rừng tại khu vực Tây Nguyên. Các cấp chính quyền huyện Đam Rông và tỉnh Lâm Đồng cần sớm thể chế hóa các đề xuất sinh kế trong giai đoạn 2019-2023. Hãy liên hệ ngay với các đơn vị quản lý chuyên môn để tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu và ứng dụng giải pháp bảo vệ rừng bền vững vào thực tiễn địa phương.