Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng 1. Khái niệm quản lý rừng bền vững Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới. Hiện tại có hai định nghĩa đang được sử dụng ở Việt Nam.
Theo ITTO (tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế), quản lý rừng bền vững là: Quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội. Theo Tiến trình Hensinki, quản lý rừng bền vững là: sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác. Các định nghĩa trên, nhìn chung tương đối dài dòng nhưng tựu trung lại có mấy vấn đề chính sau: Quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra (sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ.; phòng hộ môi trường, bảo vệ đầu nguồn, bảo vệ chống cát bay, chống sạt lở đất.; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái. Bảo đảm sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Bền vững về kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất, hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng; duy trì và phát triển diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất rừng).
Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương. Bền vững về môi trường là bảo đảm kinh doanh rừng duy trì được khả năng phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác.2 Khái niệm về chứng chỉ rừng Theo ISO (1998) chứng chỉ là cấp giấy xác nhận một sản phẩm, một quá trình hay một dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu nhất định. CCR có đối tượng chứng chỉ là chất lượng QLR. Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng đều bao hàm hai nội dung cơ bản là: đánh giá độc lập chất lượng QLR theo một bộ tiêu chuẩn quy định và cấp giấy chứng chỉ có thời hạn.
Chứng chỉ rừng là sự xác nhận bằng giấy chứng chỉ rằng đơn vị quản lý rừng được chứng chỉ đã đạt những tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững do tổ chức chứng chỉ hoặc được uỷ quyền chứng chỉ quy định. Hay nói cách khác, chứng chỉ rừng là quá trình đánh giá quản lý rừng để xác nhận rằng chủ rừng đã đạt các yêu cầu về quản lý rừng bền vững. Như vậy, có thể coi CCR là chứng chỉ ISO (ISO 9000, ISO 14000) đã được thực hiện trong các ngành công nghiệp, lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ và các lĩnh vực khác, nhưng điều mới lạ ở đây là áp dụng cho các doanh nghiệp quản lý kinh doanh rừng và lâm sản. Một trong những động lực quan trọng của CCR là thâm nhập thị trường tiêu thụ sản phẩm rừng đòi hỏi có chứng chỉ.
Vì vậy, CCR thường gắn liền với chứng chỉ chuỗi hành trình (CoC) - là xác nhận sản phẩm có nguồn gốc từ rừng được chứng chỉ. Lợi ích của CCR thể hiện ở cả ba mặt kinh tế, môi trường và xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Về mặt kinh tế: Sản phẩm được chứng chỉ (được dán nhãn FSC) sẽ được phép lưu thông trên mọi thị trường quốc tế, được hưởng giá cao hơn so với gỗ cùng loại không có chứng chỉ. - Về mặt môi trường: Bảo đảm cho mọi người tham gia vào thương mại lâm sản có điều kiện đóng góp vào bảo vệ tài nguyên rừng, bảo tồn ĐDSH, bảo vệ các chức năng sinh thái, phòng hộ của rừng,.
- Về mặt xã hội: Bảo đảm sự tham gia của nhiều thành phần có liên quan đến tài nguyên rừng trong việc sử dụng rừng. Các hoạt động lâm nghiệp tìm được sự đồng thuận của các nhóm đối tượng khác nhau, hài hoà được lợi ích cá nhân, lợi ích cộng đồng và lợi ích của quốc gia, quốc tế. Quyền của con người được tôn trọng. Qua phân tích các khái niệm về QLRBV và CCR nhận thấy: CCR được sử dụng như là một phương tiện để hướng tới kết quả cuối cùng là QLRBV và có trách nhiệm hơn.
Mặt khác nếu quá trình QLR chưa đạt được các tiêu chuẩn của QLRBV thì sẽ không có CCR, hay nói cách khác QLRBV là điều kiện cần còn CCR là điều kiện đủ. Chính vì vậy hai cụm từ này thường được gắn liền với nhau và có quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau. Hiện có hai lý do chính để công tác này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đó là: Xu hướng mất rừng và suy thoái tài nguyên rừng ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển; Người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi các sản phẩm lưu thông trên thị trường phải được khai thác từ rừng đã được quản lý bền vững. Vai trò của quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng.
Vai trò của quản lý rừng bền vững Quản lý rừng bền vững là một bộ phận của phát triển bền vững, nghĩa là sự phát triển có hiệu quả về kinh tế, không gây tác hại đến môi trường sống (kể cả của người và các loài sinh vật), và có đóng góp thiết thực cho giải quyết các vấn đề xã hội cả cho hiện nay và mãi mãi về sau. Phát triển bền vững là một yêu cầu cấp bách hiện nay của toàn thế giới, vì trong quá khứ và hiện tại sự phát triển không bền vững đã và đang làm suy giảm nghiêm trọng tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi trường sống, đe dọa sự sống còn của chính con người. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Hiện nay, trên phạm vi toàn thế giới cũng như từng quốc gia, quản lý rừng không bền vững đã và đang là nguyên nhân chủ yếu làm cho diện tích rừng ngày một giảm, năng suất chất lượng rừng ngày càng kém, nhiều loài cây rừng và động vật hoang ngày càng ít hoặc tuỵệt chủng, môi trường sống bị đe dọa nghiêm trọng như lũ lụt, khô hạn, xói mòn đất ngày một nhiều, đời sống của người dân, nhất là dân địa phương, bị ảnh hưởng rất lớn. Ví dụ, đối với quản lý rừng trồng, nếu chọn loài cây trồng không phù hợp có thể làm xói mòn đất, rừng bị sâu bệnh, năng suất kém, không giải quyết tốt các vấn đề xã hội trong quản lý rừng sẽ dẫn đến khai thác trộm hoặc lấn chiếm đất rừng, cường độ khai thác không hợp lý dẫn đến làm mất khả năng tái sinh của rừng, v.
Những lý do cần thực hiện quản lý rừng bền vững vì: a) Những nguyên nhân chủ quan: Cần giữ vững và phát triển sản xuất lâm nghiệp lâu dài, tăng thu nhập từ rừng, hiệu quả kinh tế cao là mong muốn của các hộ trồng rừng. Tuy nhiên, nghề trồng rừng có rất nhiều khó khăn như các hộ gia đình nông thôn miền núi thường là nghèo, thiếu vốn đầu tư và kỹ thuật, đất trồng rừng thường là loại xấu, đòi hỏi đầu tư cao, cây rừng lại là cây lâu năm mới cho thu nhập, thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định, môi trường xã hội phức tạp đòi hỏi chi phí bảo vệ cao, thiên tai dịch bệnh nhiều v. Nhưng đối với các hộ chỉ có thể sống được bằng nghề trồng rừng thì không có con đường nào khác ngoài việc phải duy trì và phát triển nghề trồng rừng để có thu nhập cao, ổn định và có đủ nguồn lực tái đầu tư. Thực hiện tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững là điều kiện chủ yếu giúp chủ rừng đạt được mục tiêu này.
b) Những nguyên nhân khách quan: Chủ rừng thực hiện quản lý rừng bền vững sẽ được cấp chứng chỉ nên được bán sản phẩm ở các thị trường đòi hỏi có chứng chỉ và được giá cao hơn. Ở nhiều thị trường quốc gia và quốc tế người ta từ chối mua các sản phẩm rừng không có chứng chỉ quản lý rừng bền vững ngay cả khi bán với giá rẻ. Đây là “áp lực thị trường”, buộc các nhà sản xuất gỗ phải thực hiện quản lý rừng bền vững nếu muốn tiếp tục sản xuất kinh doanh. Mặc dù xu hướng này chỉ mới xuất hiện vào đầu những năm 1990, nhưng nay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đã lan rộng ra nhiều khu vực rộng lớn, nhất là những thị trường tiêu thụ gỗ chủ yếu như Tây Âu, Bắc Mỹ và các nước công nghiệp phát triển.
Ví dụ, chính quyền nhiều thành phố lớn ở Hà Lan, Đức, Hoa Kỳ có lệnh cấm sử dụng gỗ rừng nhiệt đới không có chứng chỉ quản lý rừng bền vững trong những công trình xây dựng bằng vốn ngân sách. Đến 1990 quốc hội Australia ban hành luật hạn chế nhập khẩu gỗ từ những nước không thực hiện quản lý rừng bền vững. Biện pháp cấm và tẩy chay thương mại và sử dụng gỗ rừng nhiệt đới cũng thường xuyên được thảo luận ở Hội đồng gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTC) trong suốt những năm 1988-1992. Đến đầu những năm 2000 Nhóm G8 (các nước giầu nhất) tuyên bố các chính phủ thành viên cam kết tìm biện pháp đáp ứng những nhu cầu về gỗ và nguyên liệu giấy của mình chỉ từ những nguồn hợp pháp và bền vững.