Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Khảo sát tình hình phát sinh và đề xuất giải pháp quản lý rác thực phẩm từ chất thải rắn sinh hoạt hộ gia đình tại xã Đất Cuốc, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương" do sinh viên Tống Lê Thùy Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Bùi Phạm Phương Thanh (Khoa Khoa học Quản lý, Trường Đại học Thủ Dầu Một, bảo vệ tháng 5/2017) thuộc chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường.
Về bối cảnh thực tiễn, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng cùng tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và gia tăng dân số đã làm phát sinh khối lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) ngày càng lớn, trong đó rác thực phẩm chiếm tỷ trọng đáng kể. Theo số liệu của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) được tác giả trích dẫn, mỗi năm toàn cầu có khoảng 1,3 tỷ tấn rác thải thực phẩm thải ra môi trường, phần lớn bị đem đi chôn lấp thay vì tái sử dụng. Tại địa bàn nghiên cứu, huyện Bắc Tân Uyên nói chung và xã Đất Cuốc nói riêng là khu vực kinh tế trọng điểm với sự hiện diện của Khu công nghiệp Đất Cuốc (quy mô 560 ha), thu hút đông đảo lao động nhập cư. Sự gia tăng dân số cơ học và hoạt động dịch vụ thương mại kéo theo lượng chất thải sinh hoạt tăng mạnh. Trong khi đó, hệ thống quản lý và hạ tầng xử lý chất thải tại xã còn nhiều bất cập; rác thực phẩm hầu như chưa được phân loại tại nguồn mà bị vứt bừa bãi tại các bãi đất trống hoặc thu gom lẫn lộn đưa về bãi chôn lấp, làm chậm quá trình phân hủy kỵ khí, phát sinh mùi hôi thối và tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch bệnh.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Điều tra, khảo sát khối lượng và thành phần phát sinh rác thực phẩm từ chất thải rắn sinh hoạt hộ gia đình trên địa bàn xã Đất Cuốc, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm quản lý hiệu quả hơn lượng rác thực phẩm phát sinh, góp phần thu hồi các thành phần có khả năng tái sử dụng, tái chế nhằm mang lại lợi ích kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
- Khảo sát khối lượng rác thải thực phẩm từ CTRSH tại các nhóm hộ gia đình trên địa bàn xã.
- Điều tra, khảo sát hiện trạng thu gom, xử lý và nhận thức của người dân về rác thực phẩm.
- Đánh giá sơ bộ khối lượng rác thực phẩm được thu hồi và khối lượng bị thất thoát ra môi trường hoặc bãi chôn lấp.
- Đề xuất các giải pháp quản lý, phân loại và tái chế rác thực phẩm phù hợp với điều kiện địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Rác thực phẩm từ chất thải rắn sinh hoạt của các hộ gia đình.
- Phạm vi không gian: 4 ấp thuộc xã Đất Cuốc, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (gồm ấp Suối Voi, ấp Đá Bàn, ấp Suối Sâu và ấp Tân Lợi).
- Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017; thời gian điều tra khảo sát thực địa và cân đo mẫu rác thực tế diễn ra từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 3 năm 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên các khái niệm chuẩn mực về chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt và rác thực phẩm theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, Liên minh Châu Âu (EU) và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (US EPA). Tác giả tổng hợp các đặc tính lý học (khối lượng riêng, độ ẩm tính theo công thức khối lượng ướt, kích thước, độ thẩm thấu, khả năng tích ẩm), đặc tính hóa học (thành phần nguyên tố C, H, O, N, S; tỷ lệ C/N phục vụ ủ compost) và đặc tính sinh học (hàm lượng chất rắn bay hơi VS, hàm lượng lignin LC, khả năng phân hủy sinh học BF = 0,82 đối với rác thực phẩm) của chất thải rắn.
Bên cạnh đó, tác giả phân tích kinh nghiệm quản lý và công nghệ xử lý rác thực phẩm trên thế giới (mô hình của Anh với nhà máy Deerdykes chuyển đổi rác thành điện năng, hệ thống phân loại nghiêm ngặt và 37 đạo luật bảo vệ môi trường của Nhật Bản, chính sách đốt rác và bãi chứa Pulau Semakau của Singapore, hệ thống thu gom phân loại tại Hàn Quốc, California - Mỹ) và các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam (sản xuất phân compost từ bã cà phê của Vũ Hải Yến 2015; công nghệ vi sinh bán hiếu khí xử lý rác hữu cơ của Đào Châu Thu 2002, 2006; tận dụng vỏ cà phê trồng nấm bào ngư của Trần Minh Kiến 2011; chương trình phân loại CTRSH tại nguồn ở Quận 1 TP.HCM của Phạm Minh Hải 2006).
Các phương pháp nghiên cứu thực tế đã được tác giả triển khai bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập, tổng hợp các tài liệu chuyên ngành, báo cáo khoa học và văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý chất thải rắn hữu cơ.
- Phương pháp thu thập thông tin, số liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội, dữ liệu dân số và danh sách thống kê hộ gia đình, hộ kinh doanh năm 2016 do UBND xã Đất Cuốc cung cấp.
- Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu điều tra bảng hỏi xã hội học và dữ liệu cân đo khối lượng rác thực địa.
- Phương pháp xã hội học (Điều tra phỏng vấn qua bảng hỏi):
- Cỡ mẫu điều tra được tính toán theo công thức Yamane/Slovin:
$$n = \frac{N}{1 + N(e)^2}$$
Với tổng số hộ gia đình của xã năm 2016 là $N = 583$ hộ, chọn mức sai số tiêu chuẩn $e = 0,1$ (độ tin cậy 90%), cỡ mẫu tính ra là $n = 85$ phiếu.
- 85 phiếu được phân bổ đại diện theo 4 ấp và 4 nhóm đối tượng: Hộ không kinh doanh (48 phiếu), Hộ kinh doanh ăn uống (7 phiếu), Hộ kinh doanh buôn bán (15 phiếu), Hộ kinh doanh dịch vụ (15 phiếu).
- Phương pháp định tính, định lượng (Lấy mẫu và cân đo trực tiếp):
- Tiến hành phát túi đựng rác chuyên dụng cho 85 hộ gia đình được chọn mẫu và thỏa thuận giữ lại rác thực phẩm phát sinh mỗi ngày.
- Thực hiện cân đo trực tiếp khối lượng rác thực phẩm liên tục trong 14 ngày (từ tháng 2/2017 đến tháng 3/2017) tại từng hộ để tính giá trị trung bình (kg/ngày/hộ).
- Phân tách và cân riêng từng thành phần rác thực phẩm: thức ăn thừa, rau củ, bã trà/cà phê, bã mía, trái cây hư hỏng, vỏ dừa.
- Phương pháp ước tính và cân bằng vật chất:
- Ước tính tổng khối lượng phát sinh: $M_{PS} = M_{KDPS} + M_{KKDPS}$ (trong đó $M_{KDPS}$ là tổng lượng phát sinh của các nhóm hộ kinh doanh ăn uống, buôn bán, dịch vụ; $M_{KKDPS}$ là lượng phát sinh của nhóm hộ không kinh doanh).
- Xác định tổng khối lượng thu hồi: $M_{TH} = M_{HGDTH} + M_{NDTH}$ (trong đó $M_{HGDTH}$ là lượng do hộ gia đình tự thu hồi; $M_{NDTH}$ là lượng do người dân xung quanh thu gom).
- Xác định hiệu suất thu hồi: $H = \frac{M_{TH}}{M_{PS}} \times 100%$.
- Xác định lượng thất thoát ra môi trường/bãi rác: $M_{TT} = M_{PS} - M_{TH}$.
- Phương pháp xử lý số liệu: Tổng hợp, thống kê mô tả, tính toán giá trị trung bình và vẽ biểu đồ phân bố bằng phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Tổng quan
Nội dung phần này hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về CTR, CTRSH và rác thực phẩm, phân tích các ảnh hưởng tiêu cực của rác thực phẩm đến môi trường không khí (bốc mùi hôi thối do phân hủy kỵ khí), môi trường nước (nước rỉ rác có tải lượng ô nhiễm hữu cơ cao gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm), môi trường đất và sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, chương này khái quát hóa các mô hình xử lý rác hữu cơ phổ biến như nuôi giun quế, mô hình tháp trồng cây, ủ phân hữu cơ vi sinh compost và lên men kỵ khí thu hồi khí sinh học biogas.
Về địa bàn nghiên cứu, xã Đất Cuốc được thành lập từ ngày 01/01/2005 trên cơ sở chia tách từ hai xã Tân Thành và Tân Mỹ, có tổng diện tích tự nhiên 3.114,86 ha (đất nông nghiệp chiếm 2.548,03 ha; đất phi nông nghiệp chiếm 566,33 ha). Toàn xã chia thành 4 ấp với 14 tổ nhân dân tự quản, tổng dân số năm 2016 là 583 hộ với 5.498 nhân khẩu (phân bổ: ấp Suối Voi 70 hộ/326 người; ấp Đá Bàn 70 hộ/334 người; ấp Suối Sâu 264 hộ/2.290 người; ấp Tân Lợi 179 hộ/2.548 người). Về cơ cấu kinh tế: công nghiệp chiếm 60,31%, nông nghiệp chiếm 31,17%, thương mại - dịch vụ chiếm 8,52%. Xã có 49 doanh nghiệp hoạt động, 187 cơ sở kinh doanh dịch vụ mua bán và 9 trang trại chăn nuôi tập trung (7 trại gà, 2 trại heo). Địa hình thoải thấp dần từ Bắc xuống Nam (độ dốc 2-5%), khí hậu nhiệt đới cận xích đạo với mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 (chiếm trên 84% lượng mưa cả năm).
Phần 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày chi tiết sơ đồ quy trình nghiên cứu từ khâu thu thập tài liệu lý thuyết, tài liệu kinh tế - xã hội địa phương, đến các bước thiết kế điều tra xã hội học và lấy mẫu thực nghiệm ngoài hiện trường. Tác giả chi tiết hóa cơ cấu phân loại ngành nghề của 583 hộ dân toàn xã năm 2016 thành hai nhóm chính: nhóm hộ không kinh doanh gồm 335 hộ (chiếm 67,92%) và nhóm hộ kinh doanh gồm 248 hộ (chiếm 32,08%, trong đó có 45 hộ kinh doanh ăn uống, 98 hộ kinh doanh buôn bán, 105 hộ kinh doanh dịch vụ). Từ cấu trúc này, tác giả thiết lập ma trận phân bổ 85 mẫu khảo sát đại diện theo tỷ lệ số hộ của từng ấp và từng ngành nghề, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật cân đo rác thực phẩm liên tục trong chu kỳ 14 ngày và thiết lập hệ thống công thức toán học tính toán phát sinh, thu hồi và thất thoát chất thải.
Phần 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 là phần nội dung thực nghiệm trọng tâm của khóa luận với các phát hiện định lượng:
-
Khối lượng phát sinh rác thực phẩm:
- Khối lượng phát sinh trung bình của hộ kinh doanh ăn uống đạt mức cao nhất, dao động từ 2,87 kg/ngày/hộ (tại ấp Suối Sâu) đến 10,14 kg/ngày/hộ (tại ấp Tân Lợi). Nguyên nhân do ấp Tân Lợi nằm liền kề Khu công nghiệp Đất Cuốc, tập trung nhiều công nhân và các quán ăn quy mô lớn.
- Khối lượng phát sinh ở hộ kinh doanh buôn bán đạt cao nhất tại ấp Suối Voi (6,53 kg/ngày/hộ) và ấp Đá Bàn (5,66 kg/ngày/hộ), cao hơn Tân Lợi (1,81 kg/ngày/hộ) và Suối Sâu (1,13 kg/ngày/hộ) do các hộ buôn bán ở Suối Voi và Đá Bàn kinh doanh thêm nước mía và dừa tươi, làm tăng lượng bã mía và vỏ dừa.
- Hộ không kinh doanh phát sinh từ 0,52 kg/ngày/hộ (ấp Tân Lợi) đến 1,21 kg/ngày/hộ (ấp Suối Voi). Ấp Suối Voi có lượng rác hộ gia đình cao do đặc thù công nhân mua tích trữ thực phẩm dùng nhiều ngày dẫn đến tỷ lệ hư hỏng, loại bỏ cao.
- Hộ kinh doanh dịch vụ phát sinh lượng rác thấp (chủ yếu từ sinh hoạt gia đình) do các dịch vụ như internet, karaoke không chế biến thức ăn.
-
Thành phần rác thực phẩm:
- Tại hộ kinh doanh ăn uống: Thức ăn thừa chiếm tỷ trọng lớn nhất (trung bình 3,25 - 3,30 kg/ngày/hộ), tiếp đến là rau củ thải bỏ từ khâu sơ chế (1,84 kg/ngày/hộ); bã trà/cà phê chiếm tỷ lệ thấp.
- Tại hộ kinh doanh buôn bán: Vỏ dừa (1,07 kg/ngày/hộ) và bã mía chiếm khối lượng lớn nhất.
- Tại hộ kinh doanh dịch vụ và hộ không kinh doanh: Thành phần chiếm ưu thế là cuộng, vỏ rau củ (lần lượt là 0,31 kg/ngày/hộ và 0,34 kg/ngày/hộ), các thành phần bã trà, vỏ dừa chiếm lượng không đáng kể.
-
Hiện trạng thu hồi và tái sử dụng rác thực phẩm:
- Đối tượng hộ gia đình tự thu hồi: Khảo sát 85 hộ ghi nhận có 20 hộ tự thu hồi rác thực phẩm (thức ăn thừa, rau củ) để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm (10 hộ tại Suối Voi, 4 hộ tại Đá Bàn, 6 hộ tại Suối Sâu; ấp Tân Lợi không có hộ tự thu hồi do không chăn nuôi). Tổng khối lượng hộ gia đình tự thu hồi toàn xã ước tính là 221,30 kg/ngày.
- Đối tượng người dân xung quanh thu gom: Ghi nhận có 4 cá nhân chuyên thu gom thức ăn thừa từ các quán ăn, hộ buôn bán tại ấp Tân Lợi và Đá Bàn để phục vụ chăn nuôi, với tổng khối lượng thu gom trung bình đạt 23,29 kg/ngày (trong đó ấp Tân Lợi đạt 20,24 kg/ngày, ấp Đá Bàn đạt 3,05 kg/ngày).
- Tổng khối lượng rác thực phẩm thu hồi toàn xã: $M_{TH} = 221,30 + 23,29 = 244,59$ kg/ngày.
-
Hiệu suất thu hồi và lượng thất thoát:
- Tổng khối lượng rác thực phẩm phát sinh toàn xã Đất Cuốc: $M_{PS} = 869,42$ kg/ngày.
- Hiệu suất thu hồi tái sử dụng đạt: $H = \frac{244,59}{869,42} \times 100% = 28,13%$.
- Lượng rác thực phẩm bị thất thoát không được tái sử dụng (bị thải chung với CTRSH đưa ra bãi chôn lấp hoặc xả thải tự do): $M_{TT} = 869,42 - 244,59 = 624,83$ kg/ngày (chiếm 71,87%).
-
Hiện trạng quản lý, xử lý và nhận thức cộng đồng:
- Địa phương chưa có hệ thống thu gom và phân loại riêng biệt cho rác thực phẩm; chưa có đơn vị chuyên trách xử lý chất thải hữu cơ.
- Nhận thức của người dân về giá trị kinh tế và môi trường của rác thực phẩm còn hạn chế; thói quen phân loại tại nguồn chưa hình thành.
-
Đề xuất giải pháp quản lý:
- Giải pháp truyền thông: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức người dân về phân loại rác tại nguồn, tác hại môi trường của rác thực phẩm và giá trị của việc tái chế.
- Giải pháp kỹ thuật: Khuyến khích các hộ gia đình nông nghiệp và trang trại áp dụng mô hình ủ phân compost hiếu khí, sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý rác rau củ; tận dụng thức ăn thừa an toàn cho chăn nuôi; nghiên cứu xây dựng hầm biogas quy mô hộ và liên hộ.
- Giải pháp tổ chức - quản lý: Thiết lập mạng lưới thu gom riêng rác thực phẩm đối với các hộ kinh doanh ăn uống tập trung; ban hành quy chế quản lý và hỗ trợ phương tiện thu gom đạt chuẩn.
Chương 4: Kết luận và kiến nghị
Tác giả tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính về lượng phát sinh, hiệu suất thu hồi và lượng thất thoát; đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với UBND xã Đất Cuốc và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bắc Tân Uyên trong việc hỗ trợ kinh phí, xây dựng các mô hình thí điểm phân loại rác tại nguồn và tổ chức tập huấn kỹ thuật ủ rác hữu cơ cho cộng đồng dân cư.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã lượng hóa toàn diện bức tranh phát sinh và quản lý rác thực phẩm trên địa bàn xã Đất Cuốc năm 2017 thông qua các bảng số liệu thực chứng:
| Chỉ số khảo sát |
Đơn vị tính |
Giá trị định lượng |
Ghi chú / Nguồn phát sinh chính |
| Tổng số hộ gia đình toàn xã |
Hộ |
583 |
335 hộ không KD, 248 hộ KD |
| Cỡ mẫu khảo sát thực địa |
Mẫu / Phiếu |
85 |
48 hộ không KD, 37 hộ KD |
| Chu kỳ lấy mẫu cân đo |
Ngày |
14 liên tục |
Thực hiện tháng 2 - tháng 3/2017 |
| Phát sinh cao nhất ở HKD ăn uống |
kg/ngày/hộ |
10,14 |
Ghi nhận tại ấp Tân Lợi (khu vực KCN) |
| Phát sinh cao nhất ở HKD buôn bán |
kg/ngày/hộ |
6,53 |
Ghi nhận tại ấp Suối Voi (bán mía, dừa) |
| Phát sinh ở hộ không kinh doanh |
kg/ngày/hộ |
0,52 - 1,21 |
Cao nhất ở Suối Voi, thấp nhất ở Tân Lợi |
| Tổng phát sinh rác thực phẩm ($M_{PS}$) |
kg/ngày |
869,42 |
Toàn bộ 583 hộ gia đình trên địa bàn xã |
| Khối lượng tự thu hồi ($M_{HGDTH}$) |
kg/ngày |
221,30 |
Do 20 hộ gia đình tự tận dụng chăn nuôi |
| Khối lượng người ngoài thu hồi ($M_{NDTH}$) |
kg/ngày |
23,29 |
Do 4 cá nhân thu gom từ quán ăn, cửa hàng |
| Tổng lượng thu hồi tái sử dụng ($M_{TH}$) |
kg/ngày |
244,59 |
Tái sử dụng làm thức ăn gia súc, gia cầm |
| Hiệu suất thu hồi rác thực phẩm ($H$) |
% |
28,13 |
Tỷ lệ thu hồi cho mục đích chăn nuôi |
| Khối lượng thất thoát ra bãi rác ($M_{TT}$) |
kg/ngày |
624,83 |
71,87% rác thực phẩm bị chôn lấp/xả thải |
Các giải pháp và kiến nghị chính tác giả đề xuất:
- Triển khai phân loại rác thực phẩm tại nguồn bắt buộc đối với các hộ kinh doanh ăn uống và khuyến khích đối với hộ dân cư.
- Xây dựng mô hình ủ phân hữu cơ vi sinh (compost) quy mô hộ gia đình tận dụng phế phụ phẩm rau củ, vỏ trái cây phục vụ diện tích trồng trọt hơn 2.000 ha cao su trên địa bàn xã.
- Quy chuẩn hóa hoạt động thu gom thức ăn thừa của người dân phục vụ 9 trang trại chăn nuôi tập trung để đảm bảo an toàn dịch bệnh.
Đóng góp của đề tài:
Khóa luận đã giải quyết được khoảng trống nghiên cứu thực tế tại địa phương khi các đề tài trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào CTRSH đô thị hoặc nghiên cứu kỹ thuật xử lý chuyên biệt (ủ bã cà phê, vỏ cà phê, rác chợ) mà chưa đi sâu khảo sát định lượng định mức phát sinh và chu chuyển dòng rác thực phẩm hộ gia đình tại một xã nông thôn đang chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hóa nhanh như Đất Cuốc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận thể hiện rõ phạm vi và các giới hạn nghiên cứu:
- Thời gian khảo sát và cân mẫu chỉ được thực hiện trong 14 ngày thuộc mùa khô (tháng 2 - tháng 3/2017), chưa phản ánh được sự dao động theo mùa giữa mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10, chiếm hơn 84% lượng mưa) và mùa khô của vùng khí hậu Đông Nam Bộ.
- Cỡ mẫu điều tra dừng lại ở 85 hộ dân với sai số cho phép $e = 0,1$ (độ tin cậy 90%) và chỉ giới hạn trong phạm vi hộ gia đình và hộ kinh doanh cá thể, chưa bao gồm lượng rác thực phẩm phát sinh từ bếp ăn tập thể của các doanh nghiệp bên trong Khu công nghiệp Đất Cuốc.
- Nghiên cứu chưa tiến hành lấy mẫu phân tích phòng thí nghiệm các chỉ tiêu hóa lý chuyên sâu (như độ ẩm thực tế, tỷ lệ C/N, hàm lượng kim loại nặng) của nguồn rác thực phẩm tại địa phương.
Hướng mở nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát theo chu kỳ cả năm (bao gồm cả mùa mưa và các dịp lễ, Tết) để xác định hệ số biến thiên phát sinh chất thải.
- Mở rộng đối tượng nghiên cứu sang các bếp ăn công nghiệp và căn tin trường học trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên.
- Triển khai các mô hình thực nghiệm ủ phân compost quy mô hộ gia đình tại chỗ và đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật trên các loại cây trồng địa phương.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Môi trường và Quản lý: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận kết hợp giữa điều tra xã hội học (công thức tính cỡ mẫu Yamane) và kỹ thuật cân đo lấy mẫu thực địa liên tục 14 ngày để xác định định mức phát sinh chất thải rắn.
- Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, huyện: Cung cấp nguồn số liệu cơ sở thực chứng về khối lượng phát sinh (869,42 kg/ngày), hiệu suất thu hồi (28,13%) và khối lượng thất thoát (624,83 kg/ngày) của xã Đất Cuốc, hỗ trợ xây dựng đề án quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn và hoàn thiện tiêu chí môi trường trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
- Các nhà nghiên cứu kinh tế tuần hoàn và tái chế: Tham khảo phương pháp phân tách thành phần chi tiết (thức ăn thừa, rau củ, bã mía, vỏ dừa) để tính toán tiềm năng nguyên liệu cho sản xuất phân bón hữu cơ và năng lượng sinh học.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng công thức nào để xác định số lượng phiếu điều tra và số hộ lấy mẫu cân rác thực tế?
Tác giả sử dụng công thức tính cỡ mẫu Yamane (Slovin):
$$n = \frac{N}{1 + N(e)^2}$$
Với tổng số hộ gia đình toàn xã Đất Cuốc năm 2016 là $N = 583$ hộ và độ tin cậy 90% (tương ứng mức sai số tiêu chuẩn $e = 0,1$). Cỡ mẫu tính toán là $n = 85$ phiếu, đồng thời đây cũng là số lượng hộ gia đình được chọn để phát túi và cân đo rác thực phẩm liên tục trong 14 ngày.
2. Tổng khối lượng phát sinh và tỷ lệ thu hồi rác thực phẩm mỗi ngày tại xã Đất Cuốc là bao nhiêu?
Theo kết quả tính toán thực nghiệm từ 85 hộ khảo sát nhân rộng toàn xã, tổng khối lượng rác thực phẩm phát sinh từ CTRSH hộ gia đình trên địa bàn xã Đất Cuốc là 869,42 kg/ngày. Tổng khối lượng rác thực phẩm được thu hồi tái sử dụng là 244,59 kg/ngày, đạt hiệu suất thu hồi 28,13%. Lượng rác thực phẩm bị thất thoát đưa ra bãi chôn lấp hoặc xả thải là 624,83 kg/ngày (chiếm 71,87%).
3. Hoạt động thu hồi rác thực phẩm tại xã Đất Cuốc do những đối tượng nào thực hiện và nhằm mục đích gì?
Hoạt động thu hồi rác thực phẩm tại địa bàn hoàn toàn nhằm mục đích làm thức ăn cho chăn nuôi gia súc, gia cầm, do hai nhóm đối tượng thực hiện:
- Hộ gia đình tự thu hồi: Ghi nhận 20 hộ (chủ yếu là hộ không kinh doanh) tự tận dụng thức ăn thừa và rau củ với tổng khối lượng ước tính 221,30 kg/ngày.
- Người dân xung quanh thu gom: Ghi nhận 4 cá nhân tại ấp Đá Bàn và ấp Tân Lợi chuyên thu gom thức ăn thừa từ các quán ăn, hộ buôn bán với tổng khối lượng 23,29 kg/ngày.
4. Tại sao hộ kinh doanh ăn uống ở ấp Tân Lợi và hộ buôn bán ở ấp Suối Voi lại có lượng rác thực phẩm phát sinh cao vượt trội?
- Tại ấp Tân Lợi, hộ kinh doanh ăn uống phát sinh trung bình 10,14 kg/ngày/hộ do ấp tập trung nhiều công ty và nằm sát Khu công nghiệp Đất Cuốc, tạo nhu cầu ăn uống dịch vụ rất lớn.
- Tại ấp Suối Voi, hộ kinh doanh buôn bán phát sinh trung bình 6,53 kg/ngày/hộ do các hộ kinh doanh tạp hóa tại đây bán kết hợp nước mía và dừa tươi, dẫn đến khối lượng bã mía và vỏ dừa thải bỏ rất lớn.
5. Thành phần rác thực phẩm chính phát sinh từ các hộ gia đình gồm những loại nào?
Thành phần rác thực phẩm qua phân loại thực nghiệm gồm: thức ăn thừa (chiếm cao nhất ở hộ kinh doanh ăn uống với 3,25 - 3,30 kg/ngày/hộ), phế phẩm rau củ (chiếm ưu thế ở hộ không kinh doanh và dịch vụ với 0,31 - 0,34 kg/ngày/hộ), bã mía và vỏ dừa (chiếm tỷ trọng cao ở các hộ buôn bán với vỏ dừa đạt 1,07 kg/ngày/hộ), bã trà/cà phê và trái cây hư hỏng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tống Lê Thùy Linh đã phản ánh trung thực và toàn diện hiện trạng phát sinh, thu gom và thất thoát rác thực phẩm từ chất thải rắn sinh hoạt hộ gia đình tại xã Đất Cuốc, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Thông qua phương pháp điều tra xã hội học kết hợp đo lường thực nghiệm liên tục 14 ngày trên 85 hộ dân đại diện, nghiên cứu đã xác lập bộ số liệu thực chứng với lượng phát sinh 869,42 kg/ngày, lượng thu hồi tái sử dụng đạt 244,59 kg/ngày (hiệu suất 28,13%) và lượng thất thoát lên tới 624,83 kg/ngày. Các giải pháp quản lý phân loại tại nguồn, ủ phân compost và tối ưu hóa chuỗi thu gom phục vụ chăn nuôi được đề xuất dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại địa phương.