CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 1. Tổng quan lý thuyết về hoạt động quản lý khai thác khoáng sản 1. Khái niệm về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản 1. Khái quát về hoạt động khai thác khoáng sản Điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản là hoạt động nghiên cứu, điều tra về cấu trúc, thành phần vật chất, lịch sử phát sinh, phát triển vỏ trái đất và các điều kiện, quy luật sinh khoáng liên quan để đánh giá tổng quan tiềm năng khoáng sản làm căn cứ khoa học cho việc định hướng hoạt động thăm dò khoáng sản.
Hoạt động khoáng sản bao gồm hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản. Khảo sát khoáng sản là hoạt động nghiên cứu tư liệu địa chất về tài nguyên khoáng sản, khảo sát thực địa nhằm khoanh định khu vực có triển vọng để thăm dò khoáng sản. Khảo sát khoáng sản được tiến hành trước giai đoạn thăm dò khoáng sản. Khi khảo sát không thi công các công trình địa chất như đào hào, giếng hoặc khoan thăm dò, mà chủ yếu nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực địa hoặc các nghiệp vụ khác ngoài thực địa.
Tuy nhiên, trong thực tế không nhất thiết phải thực hiện khảo sát khoáng sản với tất cả các loại hình khoáng sản. Thăm dò khoáng sản là hoạt động nhằm tìm kiếm, phát hiện, xác định trữ lượng, chất lượng khoáng sản, điều kiện kỹ thuật khai thác, kể cả việc lấy mẫu, thử nghiệm mẫu và nghiên cứu khả thi về khai thác khoáng sản. Khi thăm dò phải tiến hành các công việc chính như: thi công các công trình địa chất (hào, giếng, khoan thăm dò.) và các công tác nghiệp vụ khác. Kết quả của hoạt động thăm dò là cơ sở quan trọng cho giai đoạn nghiên cứu khả thi, thiết kế khai thác khoáng sản.
2 Kết quả công tác điều tra, lập bản đồ địa chất khoáng sản giúp phát hiện thêm nhiều khu vực có dấu hiệu, tiền đề khoáng sản quan trọng, đã làm rõ được các đặc điểm cơ bản của các cấu trúc địa chất, lịch sử hình thành và biến cải của các cấu trúc đó; làm rõ đặc điểm hình thành, phân bố khoáng sản trong các thành tạo địa chất và trong các cấu trúc địa chất khác nhau ở Việt Nam. Ngoài ra, công tác điều tra địa chất đã làm rõ tài nguyên và quy luật phân bố nước dưới đất của các vùng. Phần lớn các mỏ sau khi kết thúc thăm dò, phê duyệt trữ lượng đã chuyển sang giai đoạn khai thác.1: Tổng hợp trữ lượng và TNKS chính của Việt Nam STT Khoáng sản Đơn vị Tổng số Trữ lượng Tài nguyên 1 Bauxit 1.000 tấn 245,65 2,93 243,22 9 Chì – kẽm 1.000 3 STT Khoáng sản Đơn vị Tổng số Trữ lượng Tài nguyên 14 Vàng tấn 412,28 45,36 366,92 15 Bạc tấn 3.578,7 16 Platin tấn 4,92 4,92 17 Thủy ngân tấn 220 220 18 Uranium tấn 533.665 Nguồn: Nghiên cứu phương pháp xác định giá cho thuê, bán quyền khai thác mỏ khoáng sản Khai thác khoáng sản: là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan trực tiếp nhằm thu hồi khoáng sản từ lòng đất. Đây là hoạt động được tiến hành sau khi đã có Giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản (hay còn gọi là mở mỏ), khai thác bình thường theo công suất thiết kế, cho đến khi mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ - phục hồi môi trường).
Chế biến khoáng sản: là hoạt động phân loại, làm giàu khoáng sản và các hoạt động khác nhằm làm tăng giá trị khoáng sản đã khai thác. Thông thường, một doanh nghiệp tiến hành hoạt động chế biến khoáng sản cùng với hoạt động khai thác khoáng sản. Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp chỉ đơn thuần thực hiện hoạt động chế biến khoáng sản mà không tiến hành hoạt động khai thác khoáng sản. Loại hình khoáng sản được khai thác: Tính riêng cho khoáng sản rắn thì nhóm khoáng sản VLXD (sét xi măng, đá vôi xi măng, đá ốp lát các loại…) chiếm 37,0%; nhóm khoáng sản nhiên liệu (than mỡ, than antraxit) chiếm 22,1%; nhóm khoáng sản nguyên liệu sứ, gốm, thuỷ tinh, chịu lửa, bảo 4 ôn (kaolin, fenspat, sét gốm sứ, sét chịu lửa, đôlômit, cát thuỷ tinh) chiếm 15,8%; nhóm khoáng sản kim loại cơ bản thông thường (thiếc, anitmon, đồng, chì - kẽm, nikel) chiếm 4,3%; nhóm khoáng sản sắt và hợp kim của sắt (sắt, mangan, crômit và wonfram) chiếm 5,6%; nhóm khoáng sản kim loại nhẹ (bauxit, ilmenit) chiếm 7,6%; nhóm khoáng sản nguyên liệu kỹ thuật (tacl, đá vôi trắng, cát khuôn đúc, sét bentonit) chiếm 4,3%; nhóm khoáng sản quý hiếm (đá quý, saphia) chiếm 0,7%; nhóm khoáng sản hoá chất và phân bón (apatit, fluorit, secpentin) chiếm 1,6% và nhóm khoáng sản kim loại quý (vàng) chiếm 1,0%.
Về loại hình doanh nghiệp tham gia khai thác khoáng sản: Từ khi Luật Khoáng sản được ban hành đã có hầu hết các thành phần kinh tế như: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã… tham gia khai thác khoáng sản. Theo thống kê, số doanh nghiệp tham gia hoạt động trong công nghiệp khai thác mỏ tăng nhanh từ 427 doanh nghiệp (năm 2000) lên đến trên 1. Trong đó, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản làm VLXD thông thường chiếm tới gần 1.000 doanh nghiệp với quy mô nhỏ và vừa. Đặc điểm của hoạt động khai thác khoáng sản Khai thác khoáng sản là hoạt động xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, sản xuất và các hoạt động có liên quan trực tiếp nhằm thu hồi khoáng sản từ lòng đất.
Đây là hoạt động được tiến hành sau khi đã có Giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản (hay còn gọi là mở mỏ), khai thác bình thường theo công suất thiết kế, cho đến khi mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ - phục hồi môi trường). 5 Theo kết quả điều tra địa chất, thăm dò khoáng sản đến nay đã phát hiện được trên 5.000 điểm mỏ và quặng khai thác với hơn 60 loại khoáng sản khác nhau. Đây là tài sản thuộc sở hữa toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý và là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, nhất là trong giai đoạn "Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa". Ngoài ra trên đọa bàn cả nước đã phát hiện khoảng 400 nguồn nước khoáng và nước nóng thiên nhiên, trong đó có 287 nguồn đã được điều tra, có kết quả tương đối đầy đủ, đáng tin cậy.
Như vậy, so với tỷ lệ diện tích có thể nói Việt Nam là quốc gia giàu tài nguyên khoáng sản và phân bố không đồng đều ở các địa phương. Nguồn: Lại Hồng Thanh (Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam - 2009) - Quản lý nhà nước về khoáng sản, Hà Nội. Khái niệm về quản lý và quản lý hoạt động khai thác khoáng sản 1. Khái niệm về quản lý Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung.
Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ: xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ. Quản lý đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí lực và giá trị vô hình). Một cách tổng quát nhất, quản lý được xem là quá trình tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định, đó là sự kết hợp giữa tri thức và lao động trên phương diện điều hành.
Dưới góc độ chính trị: quản lý được hành chính, là cai trị; nhưng dưới góc độ xã hội: quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy. Dù dưới góc độ nào đi chăng nữa, quản lý vẫn phải dựa 6 trên những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích của quản lý. Tóm lại, quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo đúng ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã đặt ra từ trước. Là một yếu tố thiết yếu quan trọng, quản lý không thể thiếu được trong đời sống xã hội.
Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp. Khái niệm về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản Quản lý nhà nước về khoáng sản là một hoạt động cấu thành trong quản lý chung của Nhà nước, đó là hoạt động với việc sử dụng các phương pháp, công cụ quản lý thích hợp tác động đến hoạt động thăm dò và khai thác khoáng sản nhằm mục tiêu tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường trên phạm vi từng địa phương gắng liền với tổng thể chung của cả nước và hòa nhập với thế giới. Hiện nay, mọi hoạt động liên quan đến khoáng sản vẫn do Nhà nước quản lý, Nhà nước là người đua ra các chiến lược, quy hoạch khoáng sản trong từng thời kỳ để phát triển bền vững kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Vai trò của hoạt động quản lý khai thác khoáng sản Nhà nước đóng vai trò là cơ quan quản lý hoạt động khai thác khoáng sản.
Nhà nước với chức năng, quyền hạn của mình đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động khai thác khoáng sản. Nội dung chính của công tác quản lý khai thác khoáng sản bao gồm: - Điều tra, khảo sát, thăm dò, thu thập, tổng hợp các thông tin cơ bản về địa chất khoáng sản, đánh giá kinh tế địa chất TNKS, quản lý cơ sở dữ liệu, tài liệu về địa chất TNKS trong phạm vi cả nước để có kế hoạch quản lý, khai thác khoáng sản. 7 - Tổ chức lập, thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chiến lược mang tính quốc gia về khai thác, chế biến và sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản.