Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên và hiện trạng ngập nƣớc tại thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 2: L thuyết tính toán thủy lực và mô hình tính của phần mềm MIKE 11, MIKE 21, MIKE URBAN, MIKE FLOOD. Chƣơng 3: Nghiên cứu áp dụng mô hình dự báo MIKE FLOOD cảnh báo ngập và đề xuất giải pháp ngập cho quận 12 – thành phố Hồ Chí Minh. Kết luận và kiến nghị. TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ HIỆN TRẠNG NGẬP NƢỚC TẠI QUẬN 12 1.
Vị trí địa lý Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) là trung tâm kinh tế xã hội của khu vực phía Nam Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dƣơng, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai , Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp Long An và Tiền Giang, phía Đông giáp với biển Đông. Độ cao trung bình so với mặt biển là 6m.
HCM có tổng diện tích tự nhiên 2.095,58 km2 và đƣợc phân chia thành 24 quận huyện, với 317 phƣờng, xã. Khu nội thành gồm 19 quận là 1; 3; 4; 5; 6; 8; 10; 11; Phú Nhuận; Bình Thạnh; Gò Vấp; Tân Bình; Tân Phú (nội thành cũ) và các quận 2; 7; 9; 12; Thủ Đức và Bình Tân (nội thành mở rộng), với diện tích là 493,96 km2, bao gồm 254 phƣờng. Khu vực ngoại thành gồm 5 huyện là Củ Chi; Hóc Môn; Bình Chánh; Nhà Bè; Cần Giờ với diện tích là 1.601,28 km2 , bao gồm 63 xã.[1] Quận 12 đƣợc công bố thành lập ngày 01 tháng 4 năm 1997 theo Nghị định 03/CP, ngày 6 tháng 1 năm 1997 của Chính phủ trên cơ sở toàn bộ diện tích các xã Thạnh Lộc, An Phú Đông, Tân Thới Hiệp, Đông Hƣng Thuận, Tân Thới Nhất, một phần xã Tân Chánh Hiệp; một phần xã Trung Mỹ Tây thuộc huyện Hóc Môn trƣớc đây. Quận 12 là một trong các quận nội thành và nằm ở phía Bắc của thành phố Hồ Chí Minh.
Có 11 phƣờng trực thuộc gồm: Thạnh Xuân, Hiệp Thành, Thới An, Thạnh Lộc, Tân Chánh Hiệp, Tân Thới Hiệp, An Phú Đông, Trung Mỹ Tây, Tân Thới Nhất, Đông Hƣng Thuận và Tân Hƣng Thuận.[1] Kênh Tham Lƣơng-Bến Cát đi qua quận 12 của TP. HCM, nằm ở phía Tây Bắc và đƣợc bao quanh một phần Quốc lộ 1A, đồng thời còn là của ngõ giao thông khá quan trọng của thành phố nối liền với các tỉnh miền Đông Nam Bộ (Hình 1. Phía Đông giáp thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng và quận Thủ Đức, TP. Phía Tây giáp huyện Hóc Môn và quận Bình Tân, thuộc TP.
Phía Nam giáp quận Bình Thạnh, quận Gò Vấp, quận Tân Bình, quận Tân Phú và quận Bình Tân, thuộc TP. Phía Bắc giáp huyện Hóc Môn, thuộc TP. Bả đồ ranh giới quận 12 1. Đặc điểm khí tƣợng, thủy văn Đặc điểm khí tƣợng Nhiệt độ TP.
HCM nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xich đạo với đặc trƣng của khí hậu là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa: mùa mƣa và mùa khô rõ ràng tƣơng ứng với hoàn lƣu gió mùa Đông Bắc và Tây Nam. Đặc trƣng khí hậu Thành Phố Hồ Chí Minh cụ thể: Lƣợng bức xạ trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm. Nhiệt độ không khí trung bình 27oC. Nhiệt độ cao tuyệt đối 40oC, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,8oC.
Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (28,8oC), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1 (25,7oC). Biểu đồ nhiệt độ không khí trung bình tại trạm TSH đƣợc trình bày chi tiết nhƣ Hình 1. Biểu đồ nhi t độ không khí trung bình tại trạm Tâ Sơ Hòa Độ ẩm và bốc hơi Độ ẩm không khí trung bình trong 5 năm gần nhất 72 – 74%, các tháng mùa mƣa độ ẩm cao hơn mùa khô. Bình quân mùa mƣa 80%, độ ẩm cao nhất trong tháng 7 đến tháng 11 với trị số cao tuyệt đối 100%.
Ngƣợc lại, bình quân mùa khô 74,5%, độ ẩm thấp nhất trong các tháng 1 – tháng 4 với mức thấp tuyệt đối xuống tới 20%. Tổng lƣợng bốc hơi trung bình năm của thành phố là 1686 mm, lớn nhất vào tháng 3 đạt 215 mm và nhỏ nhất vào tháng 10 đạt 99 mm. Tổng lƣợng bốc hơi trung bình tháng tại trạm Tân Sơn Hòa đƣợc thể hiện nhƣ Hình 1. Biểu đồ tổ ợng b c ơ tru b t tại trạm Tâ Sơ Hòa 6 Lượng mưa Số liệu mƣa đƣợc thu thập tại các trạm đo mƣa tự động trên địa bàn TP.HCM do Công ty TNHH MTV Thoát nƣớc đô thị TP.
HCM quản lý, phục vụ đo mƣa, gồm: L Thƣờng Kiệt, Cầu Bông, Bình Chiểu, An Lạc, Tân Quy Đông và Phan Văn Khỏe, Dƣơng Quảng Hàm, Phƣớc Long A, Bình Hƣng Hòa, Quang Trung, Thanh Đa (Hình 1. Đây là số liệu mƣa hàng ngày trong các tháng mùa mƣa (từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm). Các trạm đo mƣa tự động trên mới bắt đầu hoạt động từ năm 2009 cho nên số lƣợng trạm, vị trí trạm có thể thay đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế, đồng thời, các trạm này hoạt động thực nghiệm phục vụ cảnh báo, chống ngập cho thành phố, đang trong quá trình xây dựng và đồng bộ, thế nên chúng vẫn chƣa đăng k mã trạm của Trung Ƣơng. Nhƣng số liệu vẫn đảm bảo độ tin cậy, vì đây số liệu đo tự động, phục vụ công tác chống ngập cho thành phố.
Bả đồ vị trí các trạm đ m a ở TP. HCM 7 Khu vực nghiên cứu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ở Nam bộ, có hai mùa: mùa khô và mùa mƣa. Lƣợng mƣa năm và tháng phân bố không đều, độ biến động lớn. Lƣợng mƣa bình quân/năm 1.
Số ngày mƣa trung bình/năm là 159 ngày. Trong mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 11, lƣợng mƣa chiếm 90% tổng lƣợng mƣa năm và cao nhất vào tháng 9 (Hình 1. Lƣợng mƣa không đáng kể vào các tháng giêng, tháng hai, tháng ba. Trên phạm vi không gian thành phố, lƣợng mƣa phân bố không đều, có khuynh hƣớng tăng dần theo trục Tây Nam – Đông Bắc.
Đa số các quận nội thành và các huyện phía Bắc thành phố thƣờng có lƣợng mƣa cao hơn các quận huyện phía Nam và Tây Nam. Sự chênh lệch lƣợng mƣa và phân bố không đồng đều phần lớn do sự phát triển đô thị tạo nên. Cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, tốc độ đô thị hóa là nguyên nhân chính dẫn đến lƣợng mƣa trên khu vực TP. HCM lớn hơn khu vực xung quanh gây ra nhũng vấn đề về tiêu thoát nƣớc, dẫn đến các vấn đề môi trƣờng và phát triển kinh tế xã hội.
Biểu đồ ợ m a tr ăm tại trạm Tâ Sơ Hòa Đặc điểm thủy văn Chế độ mực nƣớc trên hệ thống sông rạch chịu ảnh hƣởng của thủy triều, lƣu lƣợng từ thƣợng nguồn, nƣớc dâng do gió và sự dâng lên của mực nƣớc biển do trái đất nóng lên. Thủy triều khu vực TP. HCM thuộc loại bán nhật triều không đều. Độ lớn của mực nƣớc thủy triều phụ thuộc vào vị trí tƣơng đối giữa mặt trăng, mặt trời 8 và trái đất.
Mực nƣớc triều sẽ lớn nhất vào các tháng 10 và 11, tháng 6 – 7 là thời gian có mực nƣớc triều thấp nhất. Thành phố nằm giữa hai con sông lớn là: sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và chịu ảnh hƣởng lớn của sông Đồng Nai, sông Sài Gòn là sông có độ dốc nhỏ, lòng dẫn hẹp nhƣng sâu, ít khu chứa nên thuỷ triều truyền vào rất sâu và mạnh. Chế độ thuỷ văn, thuỷ lực của kênh rạch trong thành phố chịu ảnh hƣởng chủ yếu của sông Sài Gòn. Sông Vàm Cỏ Đông rất sâu, nhƣng lại nghèo về nguồn nƣớc do vậy vào mùa khô mặn thƣờng xâm nhập sâu vào đất.
Sông Vàm Cỏ Đông có rất nhiều nhánh và kênh rạch nối với sông Vàm Cỏ Tây và Đồng Tháp Mƣời. Do vậy khi dòng triều truyền vào bị biến dạng và giảm biên độ đáng kể. Sông Đồng Nai là nguồn nƣớc ngọt chính của thành phố với diện tích lƣu vực khoảng 45.000 km2, hàng năm cung cấp khoảng 15 tỷ m3 nƣớc. Trong tƣơng lai khi có hồ chứa Phƣớc Hoà, sông Sài Gòn sẽ đƣợc bổ sung một lƣu lƣợng khoảng 42 m3/s góp phần đáp ứng yêu cầu cấp nƣớc của thành phố.
Hệ thống kênh rạch của thành phố có hai hệ thống chính. Hệ thống các kênh rạch đổ vào sông Sài Gòn với hai nhánh chính là: rạch Bến Cát và kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè. Hệ thống các kênh rạch đổ vào sông Bến Lức, và kênh Đôi – kênh Tẻ nhƣ: rạch Tân Kiên, rạch Bà Hom, rạch Tân Hoá – Lò Gốm. Giới thiệu các công trình thoát nƣớc đô thị và hiện trạng ngập nƣớc tại các quận/huyện tp.hcm Các công trình thoát nƣớc đô thị tại TP.
HCM Trải qua các thời kỳ đã có sự phân chia địa giới hành chính cho đến ngày hôm nay, qua mỗi thời kỳ đề có sự thay đổi về kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị; trong đó có hệ thống cống thoát nƣớc. 9 Năm 2001, đƣợc sự giúp đỡ của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 752/QĐ-TTg ngày 19 tháng 6 năm 2001 về ban hành Quy hoạch Tổng thể hệ thống thoát nƣớc thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020; trong đó tập trung pháp triển hệ thống thoát nƣớc thành phố với diện tích nghiên cứu 650km2, đƣợc chia thành 6 lƣu vực: Trung tâm thành phố, Đông Bắc thành phố, Đông Nam Thành phố, Tây Thành phố, Nam Thành phố, Bắc Thành phố. Mỗi lƣu vực xác định những định hƣớng phát triển chung, hƣớng thoát nƣớc tập trung vào những tuyến kênh, rạch chính cho từng lƣu vực để thoát nƣớc ra sông Sài Gòn, sông Đông Nai và sông Vàm Cỏ Đông. Ba sông chính bao gồm: - Sông Sài Gòn: thoát nƣớc cho vùng phía Bắc và trung tâm thành phố.
- Sông Đồng Nai (đoạn hạ lƣu là sông Nhà Bè): thoát nƣớc cho vùng phía Nam, Đông Bắc. - Sông Vàm Cỏ Đông: thoát nƣớc cho vùng Tây Nam. Theo cách phân chia hệ thống cống do JICA đề xuất: - Tuyến cống cấp 1: là những tuyến sông, kênh, rạch phục vụ thoát nƣớc - Tuyến cống cấp 2: là những tuyến cống thoát trực tiếp ra tuyến sông, kênh, rạch phục vụ thoát nƣớc. - Tuyến cống cấp 3: là những tuyến cống thoát vào tuyến cống cấp 2, những tuyến đƣờng nhánh, hẻm.
- Tuyến cống cấp cấp 4: là những tuyến cống thoát vào tuyến cống cấp 3. Đến nay, tổng chiều dài cống thoát nƣớc trên địa bàn thành phố là 4. Trong đó, Trung tâm Điều hành chƣơng trình chống ngập nƣớc (Trung tâm Chống ngập) phụ trách quản lý 678 tuyến với tổng chiều dài 1.