Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Phú Thọ giữ vị trí trung tâm vùng trung du và miền núi Bắc Bộ với tổng diện tích tự nhiên đạt 3.534,5 km2, bao gồm 13 đơn vị hành chính cấp huyện. Địa bàn tỉnh sở hữu diện tích đất nông nghiệp lên tới 297.175 ha, chiếm 84,07% quỹ đất tự nhiên, tạo nền tảng sinh kế cho hơn 80% dân số nông thôn. Mặc dù nằm ở hợp lưu của ba hệ thống sông lớn là sông Đà, sông Thao và sông Lô, tài nguyên nước mặt tại Phú Thọ phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian. Lượng mưa trung bình năm dao động từ 1.485 mm tại trạm Lâm Thao đến 2.821 mm tại khu vực Đông Cửu, trong đó mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 chiếm tới 70% đến 80% tổng lượng mưa cả năm. Ngược lại, toàn bộ mùa khô chỉ nhận khoảng 20% đến 30% lượng mưa, dẫn đến tình trạng khô hạn cục bộ gay gắt.

Áp lực khai thác nước ngày càng gia tăng khi tỉnh mở rộng không gian công nghiệp với 7 khu công nghiệp có tổng diện tích quy hoạch 2.256 ha và 26 cụm công nghiệp quy mô 1.182,8 ha. Đồng thời, dân số năm 2017 là 1.398.710 người với tốc độ tăng tự nhiên 1,1%/năm đang tạo ra nhu cầu cấp bách về nước sạch sinh hoạt và dịch vụ. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khí tượng Thủy văn của tác giả Vũ Khắc Tú, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trương Vân Anh tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Đánh giá định lượng cân bằng nước hệ thống hiện trạng và dự báo rủi ro thiếu hụt đến năm 2030 dưới tác động của biến đổi khí hậu. Nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học tin cậy giúp địa phương hoạch định chiến lược phân bổ nguồn nước bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cân bằng nước hệ thống của Ven Te Chow, định nghĩa nguồn nước là một hệ thống động lực phức hợp bao gồm tài nguyên nước tự nhiên, các công trình khai thác, nhu cầu tiêu thụ đa ngành và các mối quan hệ tương tác với môi trường. Phương trình cân bằng nước tổng thể xác định lượng nước đến bao gồm mưa bề mặt, dòng chảy thượng lưu và lượng nước hồi quy; lượng nước đi bao gồm bốc thoát hơi tiềm năng, lượng ngấm sâu xuống tầng ngậm nước, lượng nước cấp cho các đối tượng kinh tế xã hội và dòng chảy thoát ra khỏi ranh giới lưu vực.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết bốc thoát hơi nước tiêu chuẩn theo phương pháp Penman-Monteith của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) thông qua mô hình CROPWAT để tính toán chế độ tưới tối ưu cho từng loại cây trồng. Khái niệm kịch bản biến đổi khí hậu dựa trên nồng độ phát thải khí nhà kính đại diện RCP4.5 của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) được tích hợp để mô phỏng sự biến thiên nhiệt độ và lượng mưa trong tương lai, làm cơ sở phân tích ứng phó rủi ro thủy văn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu tính toán được thu thập đồng bộ từ 5 trạm khí tượng gồm Việt Trì, Minh Đài, Phú Hộ, Phù Ninh, Thanh Sơn và 11 trạm đo mưa chuyên dùng với chuỗi số liệu quan trắc liên tục từ năm 1959 đến năm 2017. Dữ liệu thủy văn bao gồm lưu lượng thực đo tại các trạm then chốt: trạm Hòa Bình trên sông Đà, trạm Yên Bái trên sông Thao, trạm Hàm Yên và Vụ Quang trên sông Lô, cùng trạm Thanh Sơn trên sông Bứa. Cỡ mẫu quan trắc kéo dài gần 60 năm bảo đảm tính đại diện thống kê và độ tin cậy cao cho việc phân tích quy luật thời tiết.

Về phương pháp phân tích, tác giả thiết lập chuỗi mô hình liên hoàn: Mô hình thủy văn gộp MIKE NAM được sử dụng để mô phỏng tương quan mưa dòng chảy trên các tiểu lưu vực với cấu trúc 5 bể chứa ẩm thẳng đứng; mô hình MIKE 11 Muskingum thực hiện diễn toán thủy lực dòng chảy từ sau các hồ chứa thủy điện Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang về đến trạm Vụ Quang; mô hình MIKE BASIN tích hợp dữ liệu GIS để thiết lập sơ đồ mạng lưới nút dùng nước và tính toán cân bằng tổng thể. Bộ thông số mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định nghiêm ngặt bằng chỉ số hiệu quả Nash-Sutcliffe, đạt mức độ tương thích cao giữa dòng chảy tính toán và thực đo trước khi áp dụng cho kịch bản năm 2030.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, bức tranh cân bằng nước năm hiện trạng cho thấy tổng lượng nước mặt toàn tỉnh Phú Thọ tuy dồi dào nhờ dòng chảy ngoại lai nhưng vẫn xuất hiện thiếu hụt cục bộ trong mùa kiệt với khối lượng thiếu hụt là 1,83 triệu m3/năm. Tình trạng này tập trung vào các tháng 1, 2 và 3 khi lượng dòng chảy về các suối nội địa suy giảm mạnh trong khi nhu cầu tưới dưỡng cho vụ đông xuân đạt đỉnh.

Thứ hai, dưới tác động của biến đổi khí hậu theo kịch bản phát thải trung bình kết hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đến năm 2030, áp lực thiếu nước gia tăng đột biến. Tổng lượng nước thiếu hụt dự báo tăng lên mức 8,71 triệu m3/năm, gấp hơn 4,7 lần so với năm hiện trạng. Tình trạng căng thẳng nguồn nước tập trung nghiêm trọng tại 5 tiểu lưu vực trọng điểm gồm: PT_TNG1, PT_TNG2, PT_TPL53, PT_TDD và PT_TPL61.

Thứ ba, cơ cấu sử dụng nước có sự chuyển dịch rõ nét. Nhu cầu nước tưới nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng chi phối trên 75% tổng lượng nước sử dụng, nhưng nhu cầu nước cho công nghiệp và sinh hoạt đô thị ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhanh. Lượng nước cấp sinh hoạt dự kiến tăng tương ứng với mức đô thị hóa đạt 25% và dân số đạt 1,454 triệu người vào năm 2030, cùng với sự lấp đầy của 7 khu công nghiệp tập trung.

Thứ tư, biên độ dao động mực nước giữa mùa lũ và mùa cạn tại trạm Bến Gót trên sông Thao đạt mức chênh lệch trung bình 9,65 m và dao động cực đại lên tới 12,25 m. Mực nước kiệt xuống thấp kết hợp với hàm lượng phù sa bình quân khoảng 1 kg/m3 gây khó khăn lớn cho việc vận hành các trạm bơm ven sông, làm suy giảm hiệu suất cấp nước thực tế từ 15% đến 30% trong các đợt kiệt sâu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng thiếu hụt nước tại 5 tiểu lưu vực miền núi là do đặc điểm địa hình chia cắt mạnh mẽ của phần cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nơi sườn dốc lớn khiến dòng chảy mặt sau mưa thoát nhanh ra các sông chính. Tiểu vùng hữu ngạn sông Hồng chiếm 67,94% diện tích tự nhiên nhưng có mạng lưới sông suối ngắn, độ dốc đáy lớn, không có dung tích trữ tự nhiên để điều tiết dòng chảy sang mùa khô.

Khi nhiệt độ trung bình năm dự báo tăng từ 1,0°C đến 1,5°C theo kịch bản RCP4.5, lượng bốc hơi tiềm năng vượt ngưỡng 895,8 mm/năm làm tăng hệ số thiếu hụt độ ẩm đất, đẩy định mức tưới CROPWAT của cây trồng tăng từ 5% đến 8%. So sánh với các nghiên cứu cân bằng nước trên lưu vực sông Cầu hay sông Thạch Hãn, kết quả tại Phú Thọ cho thấy sự tương đồng về quy luật suy giảm dòng chảy kiệt do biến đổi khí hậu nhưng mức độ tổn thương cao hơn tại các vùng nông thôn miền núi.

Trong luận văn, các chuỗi dữ liệu phức tạp được mô hình hóa trực quan qua bản đồ phân vùng phần trăm thiếu hụt nước năm 2017 và năm 2030 xây dựng trên nền tảng GIS, kết hợp với các đường quá trình lưu lượng thực đo và tính toán tại trạm Thanh Sơn, Vụ Quang, Hàm Yên. Bảng ma trận cân bằng nước 12 tháng giúp nhận diện chính xác thời điểm xuất hiện thâm hụt tài nguyên nước để đưa ra phương án điều tiết hợp lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp công trình tích trữ và điều tiết nguồn nước mặt: Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần ưu tiên bố trí nguồn vốn giai đoạn 2021-2025 để nạo vét, nâng cấp hệ thống hồ đập, xây dựng các đập dâng cơ động trên sông Bứa và các suối nhánh thuộc 5 tiểu vùng PT_TNG1, PT_TNG2, PT_TPL53, PT_TDD, PT_TPL61. Mục tiêu là gia tăng dung tích trữ hữu công thêm 10 triệu m3 nước, bảo đảm cấp đủ nước tưới trong các tháng kiệt cao điểm.

Thứ hai, áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm và chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với các hợp tác xã triển khai mô hình tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa tự động cho 297.175 ha đất nông nghiệp, đặc biệt là vùng chuyên canh cây chè và cây ăn quả đồi gò. Giải pháp này hướng tới mục tiêu giảm 15% định mức tiêu thụ nước tưới nông nghiệp vào năm 2025 mà vẫn bảo đảm năng suất cây trồng.

Thứ ba, kiểm soát khai thác và tuần hoàn nước công nghiệp: Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ cùng Sở Tài nguyên và Môi trường áp dụng quy định bắt buộc đối với 7 khu công nghiệp và 26 cụm công nghiệp về việc lắp đặt hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn tái sử dụng tối thiểu 30% lượng nước cho mục đích làm mát và vệ sinh công nghiệp trong giai đoạn 2022-2030, đồng thời siết chặt quản lý 142 nghìn m3/ngày nước mặt khai thác đơn lẻ.

Thứ tư, thiết lập hệ thống quan trắc và điều hành tài nguyên nước thông minh: Giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng mạng lưới trạm đo mực nước tự động trên 72 tuyến sông suối nội tỉnh, tích hợp công cụ MIKE BASIN vào hệ thống hỗ trợ ra quyết định thời gian thực giai đoạn 2023-2030, giúp điều phối linh hoạt quy trình vận hành liên hồ chứa Hòa Bình, Tuyên Quang và Thác Bà phục vụ sản xuất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước, bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Phú Thọ, có thể sử dụng trực tiếp các số liệu tính toán thiếu hụt nước tại 5 tiểu lưu vực để xây dựng Quy hoạch phân bổ tài nguyên nước và Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021-2030.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Khí tượng, Thủy văn, Biến đổi khí hậu và Kỹ thuật tài nguyên nước sẽ tìm thấy trong tài liệu này một khung phương pháp luận hoàn chỉnh về việc tích hợp bộ mô hình MIKE NAM, CROPWAT, MIKE 11 và MIKE BASIN trong việc xử lý bài toán lưu vực thiếu số liệu quan trắc.

Nhóm kỹ sư tư vấn thiết kế công trình thủy lợi, cấp thoát nước và hạ tầng đô thị có thể khai thác các chỉ tiêu cấp nước, chuỗi số liệu lưu lượng kiệt và biên độ mực nước sông từ 9,65 m đến 12,25 m để tính toán kích thước công trình thu nước, trạm bơm dâng và đập dâng chống hạn.

Nhóm ban quản lý khu công nghiệp, doanh nghiệp sản xuất và các tổ chức phát triển nông nghiệp bền vững có thể tham khảo bức tranh dự báo tài nguyên nước đến năm 2030 để chủ động xây dựng phương án trữ nước sản xuất, phòng ngừa rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng trong mùa khô.

Câu hỏi thường gặp

Tỉnh Phú Thọ có ba hệ thống sông lớn chảy qua nhưng vì sao vẫn xảy ra tình trạng thiếu nước trong mùa khô? Nguyên nhân cốt lõi là do mực nước mùa kiệt trên sông Thao, sông Lô rút sâu với biên độ dao động lên đến 12,25 m, khiến các công trình lấy nước tự chảy mất tác dụng. Thêm vào đó, địa hình đồi núi chiếm 67,94% diện tích có độ dốc cao làm dòng chảy mùa khô kiệt quệ nhanh chóng.

Mô hình MIKE BASIN đóng vai trò gì nổi bật trong đánh giá cân bằng nước lưu vực? MIKE BASIN cho phép số hóa toàn bộ mạng lưới sông ngòi, liên kết không gian GIS với các nút nhu cầu sử dụng nước đa ngành từ sinh hoạt, 7 khu công nghiệp đến hàng trăm nghìn hecta nông nghiệp, từ đó mô phỏng chính xác quá trình phân bổ nước theo thứ tự ưu tiên trong từng bước thời gian tháng.

Dự báo lượng nước thiếu hụt của tỉnh Phú Thọ đến năm 2030 biến động như thế nào so với hiện trạng? Theo kết quả mô hình hóa, tổng lượng nước thiếu hụt trong toàn tỉnh sẽ tăng mạnh từ 1,83 triệu m3/năm ở thời điểm hiện trạng lên mức 8,71 triệu m3/năm vào năm 2030, chủ yếu do nhu cầu nước phát triển kinh tế tăng cao kết hợp với tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.

Những tiểu lưu vực nào tại Phú Thọ ghi nhận mức độ rủi ro thiếu hụt nước cao nhất? Kết quả nghiên cứu xác định có 5 tiểu vùng chịu thâm hụt nước nghiêm trọng nhất gồm PT_TNG1, PT_TNG2, PT_TPL53, PT_TDD và PT_TPL61, phần lớn nằm ở khu vực vùng núi phía Tây và các nhánh suối nội địa chưa có công trình điều tiết dung tích lớn.

Phương pháp giải quyết bài toán thiếu số liệu thủy văn tại các tiểu lưu vực nội tỉnh được thực hiện ra sao? Tác giả sử dụng phương pháp lưu vực tương tự thông qua việc hiệu chỉnh và kiểm định bộ thông số mô hình MIKE NAM tại trạm thủy văn Thanh Sơn trên sông Bứa đạt chỉ số Nash tin cậy, sau đó mượn bộ thông số này để tính toán dòng chảy đến từ mưa cho các tiểu vùng không có trạm quan trắc.

Kết luận

  • Ứng dụng thành công chuỗi mô hình tích hợp MIKE NAM, CROPWAT, MIKE 11 và MIKE BASIN để định lượng toàn diện cán cân tài nguyên nước tỉnh Phú Thọ trên nền tảng dữ liệu khí tượng thủy văn giai đoạn 1959-2017.
  • Xác định lượng nước thiếu hụt mùa kiệt thời điểm hiện trạng là 1,83 triệu m3/năm và dự báo con số này sẽ tăng lên 8,71 triệu m3/năm vào năm 2030 dưới tác động kép của phát triển kinh tế xã hội và biến đổi khí hậu.
  • Khoanh vùng chính xác 5 tiểu lưu vực trọng điểm chịu nguy cơ hạn hán cao nhất gồm PT_TNG1, PT_TNG2, PT_TPL53, PT_TDD, PT_TPL61, làm căn cứ định hướng đầu tư công trình thủy lợi tập trung.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, bao gồm nâng cấp hồ đập, tưới tiết kiệm trên 297.175 ha đất nông nghiệp, tuần hoàn nước công nghiệp và vận hành quan trắc số hóa đến năm 2030.
  • Đây là tài liệu khoa học thực tiễn giá trị; các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và kỹ sư thủy lợi hãy khai thác ngay nguồn số liệu chuyên sâu từ luận văn này để tối ưu hóa công tác quy hoạch tài nguyên nước tại địa phương.