CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Đặc điểm tự nhiên, dân sinh kinh tế của Hà Nội. Vị trí địa lý - Thủ đô Hà Nội là một trong những thành phố có địa bàn rộng với diện tích 3.324,92 km2, nằm chếch về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng có vị trí 20053’ đến 21023’ vĩ độ Bắc đến 105044’ đến 106002’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp với các tỉnh Thái Nguyên – Vĩnh Phúc; Phía Tây giáp với các tỉnh Phú Thọ - Hoà Bình; Phía Đông giáp với các tỉnh Bắc Giang – Băc Ninh – Hưng Yên; Phía Nam giáp với các tỉnh Hoà Bình – Hà Nam.
Bản đồ thành phố Hà Nội 4 1. Địa hình, địa chất 1. Đặc điểm địa hình - Địa hình Hà Nội đa dạng, phức tạp vừa có núi, vừa có đồi, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Trong đó đồng bằng chiếm ¾ diện tích tự nhiên của thành phố.
Độ cao trung bình của Hà Nội từ 5 đến 20m so với mực nước biển, các đồi núi cao tập trung ở phía Bắc và phía Tây. Các đỉnh cao nhất là Ba Vì 1.281m; Gia Dê 707m; Chân Chim 462m; Thanh Lanh 427m; Thiên Trù 378m. Trong khu vực nội đô có một số gò thấp như gò Đống Đa; Núi Nùng. Đặc điểm địa chất.
- Thành phố Hà Nội nằm gọn trong một ô trũng thuộc đồng bằng sông Hồng được cấu tạo bằng các trầm tích bờ rời thuộc kỷ Đệ Tứ với chiều dày từ 150m ÷160m. Theo thứ tự địa tầng bao gồm các loại đất đá như sau: - Các trầm tích Phistoxen, bề dày 130m ÷ 140m với các trầm tích vụn thô gồm sạn, sỏi, cá thô, cát trung có xen kẹp các thấu kính sét bột. Bao gồm các lớp: + Tầng bồi tích sông, thành phần chủ yếu là cuội, sạn, cát đa khoáng xen kẹp các lớp sét mỏng màu xám, màu nâu, nâu gụ, bề dày đạt 75 ÷ 80m, nằm chính hợp trên tầng bồi tích sông, phân bố khắp khu vực. + Tầng bồi tích sông kiểu hỗn hợp, thành phần là cát, sét, cát màu xám, màu nâu, nâu gụ, bề dày đạt 50 ÷ 60m nằm trên tầng bồi tích sông, phân bố khắp khu vực.
- Các trầm tích Holoxen, bề dày 5 ÷ 30m thành phần chủ yếu là sét cát, sét bột, sét chứa hữu cơ, phân bố trên mặt địa tầng bao gồm các lớp: + Bồi tích sông biển hỗn hợp, thành phần có cát, cát sét, dày khoảng 10m. + Bồi tích biển, thành phần là sét cát, sét màu xám, chiều dày 3 ÷ 7m + Bồi tích sông hiện đại, chủ yếu phân bố ở dải cục bộ ven sông Hồng, chiều dày 3 ÷ 5m, thành phần là sét pha cát, cát pha sét. Thuỷ văn - Hà Nội được hình thành từ vùng châu thổ sông Hồng, nét đặc chưng của địa lý Hà Nội là “thành phố sông hồ” hay “thành phố trong sông” nhờ các con sông lớn nhỏ miệt mài chảy hàng vạn năm đem phù xa về bồi đắp nên vung châu thổ phì nhiêu này. Hiện nay, có 6 con sông chảy qua Hà Nội: sông Đà, sông Hồng, sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ.
Trong đó đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài hơn 117,85km từ K00 đến K117+850 (chiếm 1/3 chiều dài con sông này chảy qua lãnh thổ Việt Nam). Trong nội đô ngoài hai con sông Kim Ngưu và Tô Lịch còn có hệ thống hồ, đầm là những đường tiêu thoát nước thải của thành phố Hà Nội. Hiện tại Hà Nội có trên 100 hồ chủ yếu là hồ tự nhiên là vết tích của những khúc sông chết để lại, một số hồ nhân tạo, cải tạo các cánh đồng nầy thụt thành hồ. Các đầm, hồ lớn nhỏ phân bố khắp các phường, xã của Hà Nội.
Nổi tiếng nhất là các hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Quảng Bá, Trúc Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Thanh Nhàn, Linh Đàm, Yên Sở, Giảng Võ, Đồng Mô, Suối Hai, Quan Sơn. - Những hồ, đầm không những là một kho nước lớn mà còn là hệ thống điều hoà nhiệt độ tự nhiên làm cho vùng đô thị nội thành giảm bớt sức hút nhiệt toả nóng của khối bê tông, sắt thép, nhựa đường và các hoạt động của các nhà máy. Hồ đầm của Hà Nội không những tạo ra cho thành phố khí hậu mát lành - tiểu khí hậu đô thị mà còn là những danh lam thắng cảnh, những vùng văn hoá đặc sắc của Thang Long- Hà Nội. Khí hậu - thời tiết - Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu Hà Nội có đặc trưng nổi bật là gió mùa, nóng ẩm và mưa nhiều về mùa Hè, lạnh và mưa ít vào mùa Đông; được chia thành 4 mùa rõ dệt Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Mùa Xuân bắt đầu từ thánh 02 (tháng giêng âm lịch kéo dài đến tháng 4, mùa Hạ bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 8 nóng bức nhưng lại mưa nhiều, mùa thu bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 10 trời dịu mát, mùa Đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 01 năm sau thời tiết giá lạnh, hanh khô Ranh giới phân chia bốn mùa chỉ có tính chất tương đối, vì Hà Nội có năm rét sớm, có năm rét muộn, có năm nóng kéo dài, nhiệt độ lên tới 40°C, có năm nhiệt độ xuống thấp dưới 5°C. 6 - Hà Nội quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời khá dồi dào. Tổng lượng bức xạ trung bình hàng năm khoảng 120 kcal/cm², nhiệt độ trung bình năm 24,9°C, độ ẩm trung bình 80 - 82%. Lượng mưa trung bình trên 1700mm/năm (khoảng 114 ngày mưa/năm).
- Trong lịch sử phát triển, Hà Nội cũng đã nhiều lần trải qua các biến đổi bất thường của khí hậu - thời tiết. Tháng 5 năm 1926, Hà Nội chứng kiến một đợt nắng khủng khiếp có ngày nhiệt độ lên tới 42,8oC. Tháng 1 năm 1955, mùa đông giá buốt nhất trong lịch sử, Hà Nội sống trong cái giá lạnh xuống đến 2,7oC. Và gần đây nhất cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 2008, sau khi vừa mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội hứng chịu một cơn mưa dữ dội chưa từng thấy.
Hầu như tất cả các tuyến phố đều ngập chìm trong nước, lượng mưa lớn vượt quá mọi dự báo đã gây ra một trận lụt lịch sử ở Hà Nội, làm nhiều người chết, gây thiệt hại vật chất đáng kể. ngày 13 tháng 6 năm 2015 một trận lốc lớn đã gây đổ nhiều cây trên các tuyến phố cũng như các công trình tạm gây thiệt hại lớn đến tính mạng cúng như tài sản của nhà nước cũng như của nhân dân thủ đô. Dân sinh kinh tế Thủ đô Hà Nội có diện tích đất tự nhiên 3.324,92km2, dân số trên 7,2 triệu người; gồm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã, 577 xã, phường, thị trấn. Mât độ dân số khoảng 2100 người/Km2, thu nhập bình quân đầu người hơn 70 triệu trên năm.
Ảnh hưởng của hệ thống đê đến tình hình dân sinh kinh tế Hệ thống đê thành phố Hà Nội được coi là một phần hạ tầng cơ sở, đóng vai trò quan trọng sống còn trong việc ngăn lũ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và các ngành kinh tế, bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhà nước và nhân dân. Cùng với quá trình đô thị hóa đê còn là tuyến giao thông quan trọng trong vận chuyển hang hóa, giao lưu thương mại giữa các địa phương trong thành phố và các tỉnh khác. Bên canh đó cũng gây khó khăn cho việc phát triển sản xuất, quy hoạch hành lang thoát lũ của những khu dân cư nằm trong bãi sông. Công tác quản lý, bảo vệ đê điều ở nước ta.
Quá trình hình thành và phát triển tổ chức Quản lý bảo vệ đê điều ở nước ta. - Việc quản lý, bảo vệ hệ thống đê điều là một nhiệm vụ không thể thiếu và là nghĩa vụ của mọi người dân, mọi tổ chức để hệ thống đê điều không bị xâm hại, đảm bảo tính năng tác dụng mang lại lợi ích cho chính chúng ta. - Đảng và Nhà nước ta vô cùng quan tâm đến việc khai thác, sử dụng bảo vệ và giữ gìn hệ thống đê điều. Nhà nước vừa là bộ máy chính trị - hành chính vừa là một tổ chức quản lý kinh tế, chính trị, xã hội.
Nhà nước thực hiện hai chức năng: tổ chức xây dựng và trấn áp. Hai chức năng này thống nhất hữu cơ, tác động qua lại với nhau. Nhà nước đảm bảo thống nhất vì lợi ích cho nhân dân. - Vì vậy tăng cường cho quản lý, bảo vệ hệ thống đê điều một cách triệt để và hiệu quả thông qua quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân.
Công trình đê điều mang tính đặc thù, để đáp ứng được yêu cầu đó: - Ngày 28 tháng 8 năm 1945 cách đây 71 năm, cơ quan quản lý đê đã được thành lập thuộc Bộ giao thông công chính. - Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Uỷ ban Trung ương hộ đê chịu trách nhiệm công tác hộ đê, bảo vệ an toàn đê điều. - Ngày 28 tháng 5 năm 1948, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ký sắc lệnh số 194-SL về thành lập các Uỷ Ban bảo vệ đê điều; - Ngày 18 tháng 6 năm 1949, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ký sắc lệnh số 68-SL “Ấn định kế hoạch thực hiện các công tác Thuỷ nông và thể lệ bảo vệ các công trình Thuỷ nông” ( có nội dung thể lệ bảo vệ đê điều); - Ngày 23 tháng 12 năm 1963 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh điều lệ bảo vệ đê điều gồm 4 chương,16 điều; 8 - Ngày 8 tháng 5 năm 1971 Hội đồng chính phủ ra quyết định số 90-CP về việc tổ chức đội quản lý đê. ( thành lập đội quản lý đê chuyên trách để tăng cường công tác quản lý nhà nước về đê điều); - Ngày 16 tháng11 năm1989 Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký lệnh số 26 LCT/HĐNN công bố pháp lệnh về đê điều gồm có 7 chương 34 điều; - Ngày 7 tháng 9 năm 2000 Chủ tịch nước, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ký lệnh số 09/L-CTN công bố pháp lệnh đê điều gồm 7 chương, 34 điều; - Luật Đê điều số 79/2006/QH11 của Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006; - Nghị định 113/2007/NĐ-CP, ngày 28 tháng 6 năm 2007.