MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Tỉnh Quảng Ninh nằm trong địa bàn động lực của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cùng với Hà Nội và Hải Phòng, Quảng Ninh đóng vai trò là một trong những tỉnh đầu tàu về phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), tạo ra sức lan tỏa trong quá trình phát triển của cả vùng. Tầm nhìn chiến lược của tỉnh Quảng Ninh là tạo bước phát triển đột phá, đưa tỉnh Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại vào năm 2020, giữ vai trò là một trong những đầu tàu kinh tế của miền Bắc, là địa phương đi đầu trong cả nước đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi phương thức phát triển từ “Nâu” sang “Xanh”, đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, tạo nền tảng vững chắc để Quảng Ninh phát triển nhảy vọt, toàn diện sau năm 2020. Trong tỉnh Quảng Ninh, có thành phố Hạ Long và Cẩm Phả có sự phát triển KT-XH rất sôi động, tốc độ phát triển kinh tế luôn đạt trên 10% trong những năm gần đây, đặc biệt là phát triển công nghiệp (than, xi măng), cảng biển và du lịch.
Hoạt động khai thác than lộ thiên vùng Hòn Gai - Cẩm Phả (HG-CP) (thuộc địa bàn thành phố Hạ Long và Cẩm Phả), phát triển ở sườn các dãy núi phía Bắc đường 18A, trên chiều dài khoảng 50 km, chiều rộng khoảng 15 km. Các mỏ than đều phân bố ở khu vực có địa hình đồi núi thấp (100÷300m), thuộc phạm vi các lưu vực nước quan trọng; tiếp giáp khu vực đô thị trọng điểm, tập trung dân cư và các hệ sinh thái cửa sông, ven biển Bái Tử Long và vịnh Hạ Long (di sản - kỳ quan thiên nhiên thế giới). Hiện nay, toàn vùng Hòn Gai đã cơ bản kết thúc khai thác lộ thiên (KTLT), chuyển mạnh sang khai thác hầm lò; tại vùng Cẩm Phả, hầu hết hoạt động KTLT tại các lộ vỉa đã kết thúc khai thác và trong giai đoạn tới một số mỏ lớn ở vùng này sẽ chuyển sang giai đoạn chuẩn bị đóng cửa mỏ. Việc quản lý cải tạo và phục hồi môi trường (CTPHMT) mới được xác lập rõ ràng cách đây 5 năm, từ khi Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 5 năm 2 2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản than (Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg), công tác quản lý kỹ thuật CTPHMT hiện nay còn nhiều bất cập.
Lịch sử lâu dài của quá trình KTLT các mỏ than đã để lại và tiếp tục để lại những hậu quả lâu dài, toàn diện về môi trường ngay cả khi kết thúc khai thác thì các khai trường và bãi thải của vẫn mỏ tiếp tục là nguồn tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường và các tai biến môi trường như nguy cơ xói mòn đất, trượt lở, lũ quét, bồi lắng; môi trường không khí, môi trường đất, môi trường nước tiếp tục bị ô nhiễm trong thời gian chưa CTPHMT và khi việc CTPHMT chưa đạt hiệu quả về môi trường cảnh quan, chống xói mòn, trượt lở bền vững và chưa mang lại hiệu quả kinh tế và duy trì hiệu quả CTPHMT bền vững, thì sẽ làm ảnh hưởng đáng kể đến đời sống của nhân dân và sự phát triển của các ngành kinh tế khác từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như vậy, việc nghiên cứu, tìm tòi các giải pháp quản lý - kỹ thuật tổng thể nhằm phục vụ công tác CTPHMT cho các mỏ khai thác than lộ thiên để phục vụ lợi ích hiện tại, tương lai cho dân cư vùng mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả nói riêng và toàn tỉnh Quảng Ninh nói chung là cần thiết và cấp bách. Đề tài luận án “Nghiên cứu các giải pháp quản lý - kỹ thuật tổng thể nhằm phục vụ công tác cải tạo và phục hồi môi trường cho các mỏ khai thác than lộ thiên vùng Hòn Gai - Cẩm Phả” là vấn đề khoa học có tính cấp thiết và thực tiễn cao, là cơ sở để quản lý CTPHMT khai thác than lộ thiên vùng phụ cận phát triển kinh tế với quỹ đất hạn hẹp cho việc phát triển không gian đô thị, du lịch, phù hợp với sự phát triển kinh tế đa dạng của địa bàn và môi trường tự nhiên, để tiếp tục phát huy hiệu quả sử dụng đất sau khai thác mỏ nhằm đáp ứng được các mục tiêu về CTPHMT đối với các hoạt động khai thác than lộ thiên trong khu vực. Mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 2.
Mục tiêu 3 - CTPHMT và duy trì kết quả CTPHMT bền vững cho mỗi một dạng mỏ KTLT nhưng vẫn thống nhất trong mỗi cụm mỏ nhằm giảm thiểu tối đa các ảnh hưởng xấu của hoạt động KTLT trong quá trình khai thác và sau khi dừng khai thác. - Thực hiện quản lý - kỹ thuật CTPHMT đối với khu vực có các mỏ than tiếp giáp và lân cận các vùng phát triển kinh tế, đảm bảo việc CTPHMT theo hướng đa mục tiêu để thuận lợi cho việc sử dụng nguồn tài nguyên đất sau này, nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng đất, tăng quỹ đất sử dụng cho phát triển kinh tế và mang lại việc làm cho người lao động (khi mỏ dừng khai thác), nhằm tiếp tục phát triển kinh tế địa phương. - Sử dụng nguồn tiền ký quỹ và huy động vốn đầu tư hợp lý, phù hợp với khả năng kinh tế của chủ mỏ hoặc chủ đầu tư của cộng đồng trong và ngoài nước nhằm từng bước giải quyết ô nhiễm môi trường vùng trọng điểm, cách ly khu vực có hoạt động khoáng sản than và tạo sự chuyển biến rõ nét về kết quả CTPHMT. Ý nghĩa khoa học - Đưa ra cơ sở khoa học của công cụ quản lý - kỹ thuật phục vụ công tác CTPHMT cho các mỏ than KTLT; - Bổ sung cơ sở khoa học trong việc định hướng phân vùng sử dụng hợp lý tài nguyên đất và bảo vệ môi trường (BVMT) tại các mỏ than KTLT.
Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần nâng cao hiệu quả công tác CTPHMT cho các mỏ than KTLT vùng HG-CP; - Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất của các mỏ than KTLT vùng HG-CP sau khai thác và nâng cao chất lượng môi trường khu vực. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài - Đối tượng nghiên cứu: các mỏ than KTLT vùng HG-CP, tỉnh Quảng Ninh. - Phạm vi nghiên cứu: công tác CTPHMT tại các mỏ than KTLT vùng HG-CP. Điểm mới của luận án 4 - Lần đầu tiên đề xuất sự cần thiết phải bổ sung “Đánh giá môi trường tổng hợp” vào khung chính sách về công cụ BVMT; đồng thời xây dựng định hướng, nội dung, nhiệm vụ và phương pháp thực hiện báo cáo ĐMT nhằm mục tiêu đảm bảo phát triển bền vững cho các tiểu vùng công nghiệp trọng điểm.
- Lần đầu tiên đề xuất các tiêu chí cụ thể, có tính định lượng vào việc đánh giá kết quả hoạt động CTPHMT cho các mỏ than KTLT vùng HG-CP. - Đề xuất được giải pháp quản lý CTPHMT trên cơ sở định hướng phân vùng chức năng sử dụng đất CTPHMT sau khai thác mỏ than KTLT nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên đất trong khu vực nghiên cứu. - Đề xuất được các phương án CTPHMT hợp lý cho từng dạng mỏ than KTLT. - Đề xuất được giải pháp kỹ thuật lồng ghép hoạt động CTPHMT vào quá trình khai thác tại các mỏ than lộ thiên vùng HG-CP nhằm đảm bảo các tiêu chí về kỹ thuật CTPHMT, tiết kiệm thời gian và giảm chi phí vận hành.
Luận điểm bảo vệ - Luận điểm 1: CTPHMT đa mục tiêu cho một số mỏ than KTLT trong cụm mỏ KTLT vùng HG-CP có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy Di sản thiên nhiên thế giới - Vịnh Hạ Long và Bái Từ Long, đồng thời là động lực để phát triển KT-XH khu vực. - Luận điểm 2: Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác CTPHMT sẽ đảm bảo sự khách quan và minh bạch trong việc nghiệm thu CTPHMT cho từng mỏ than KTLT vùng HG-CP. - Luận điểm 3: Các hoạt động kỹ thuật CTPHMT lồng ghép trong quá trình khai thác là yếu tố chính giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tai biến môi trường và chi phí CTPHMT sau khai thác tại các mỏ than KTLT vùng HG-CP. Cơ sở tài liệu Tài liệu về công tác CTPHMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản của một số mỏ lộ thiên trên Thế giới và ở Việt Nam; Các dự án CTPHMT đối với họat động 5 khai thác than lộ thiên vùng HG-CP; Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020 có xét triển vọng đến năm 2030; Tài liệu quy hoạch bảo vệ môi trường của tỉnh Quảng Ninh và một số tài liệu kỹ thuật ngành mỏ.
Nơi thực hiện đề tài Bộ môn Khai thác lộ thiên, Khoa Mỏ, Trường Đại học Mỏ - Địa Chất. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu a. Khái niệm cải tạo và phục hồi môi trường - CTPHMT trong khai thác khoáng sản là hoạt động đưa môi trường, hệ sinh thái (đất nước, không khí, cảnh quan thiên nhiên, thảm thực vật,…) tại khu vực khai thác khoáng sản và các khu vực bị ảnh hưởng do hoạt động khai thác khoáng sản về trạng thái môi trường gần với trạng thái môi trường ban đầu hoặc đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn, môi trường và phục vụ các mục đích có lợi cho con người (theo Quyết định số 18/2013/TT-Tg, ngày 29/3/2013 về CTPHMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản (Quyết định số 18/2013/TT-Tg)). - CTPHMT đa mục tiêu là CTPHMT đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn, môi trường và tiếp tục sử dụng tài nguyên đất phát triển kinh tế.
- CTPHMT thông thường là CTPHMT đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn, môi trường. Khái niệm đánh giá môi trường tổng hợp Đánh giá môi trường tổng hợp (ĐMT) là việc phân tích, tổng hợp các tác động môi trường cộng hưởng; tác động môi trường tích lũy; khả năng chịu tải của nguồn tiếp nhận; các trọng điểm dẫn đến sự vượt ngưỡng các chỉ tiêu môi trường của các hoạt động phát triển kinh tế trong vùng, khu vực trọng điểm để chỉ ra các vấn đề môi trường vùng, vùng ưu tiên để đề xuất giải pháp tổng hợp và riêng lẻ nhằm tập trung nguồn kinh phí hạn hẹp của ngân sách nhà nước và của doanh nghiệp trong nền kinh tế đang phát triển để giải quyết triệt để.