Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý, sử dụng đất lúa hiệu quả 1. Một số khái niệm về đất, đất đai, loại sử dụng đất và đất trồng lúa Khái niệm về đất (Soils): thuật ngữ đất được Đô-cu-trai-ép (1886) đưa ra và được nhiều nhà khoa học chấp nhận là “Đất là một thể tự nhiên” được hình thành do tác động tổng hợp của 5 yếu tố: khí hậu, sinh vật, đá mẹ, địa hình và tuổi địa phương. Về sau cũng chính tác giả đã bổ sung thêm một yếu tố nữa là tác động của con người.
Theo Wiliam, đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng. Ông cũng là người đưa ra khái niệm về độ phì đất là khả năng cung cấp cho cây trồng nước, thức ăn, khoáng chất và các yếu tố cần thiết khác (như không khí, nhiệt độ.) để cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn “Tập 1: Cẩm nang sử dụng đất”, 2009) [5]. Theo quan điểm này đất đai được định nghĩa như sau: Một vạt đất xác định về mặt địa lý là diện tích của bề mặt trái đất với các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chu kỳ có thể dự đoán được của lớp đệm bên trên, bên trong và bên dưới nó như là: khí hậu, đất (soils), điều kiện địa chất, điều kiện thủy văn, thực vật và động vật, những kết quả hoạt động hiện nay và quá khứ. Ở chừng mực có thể xác định được những thuộc tính có ảnh hưởng có ý nghĩa tới việc sử dụng đất đó của con người trước mắt cũng như lâu dài.
Một khoanh đất biểu thị tổng hợp các yếu tố nói trên chính là một đơn vị sinh thái cơ sở hay còn gọi là một đơn vị đất đai (FAO,1976) và nó có một mức độ thích hợp với loại sử dụng đất, trong mức thích hợp đó vẫn có những thuộc tính hạn chế. Các thuộc tính nói trên phản ánh chất lượng đất đai của vạt đất ấy. Chất lượng đất đai của một nhân tố sinh thái, nghĩa là không chỉ dừng lại ở lớp đất mặt (Soils) mà còn phải xem xét các thuộc tính khác có liên quan đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng hay vật nuôi. Các thuộc tính này bao gồm: các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa; các yếu tố thuộc về đặc tính của đất (Soils) như loại đất, thành phần cơ giới, độ phì, độ dộc, nước tưới, tiêu nước.
Trần An Phong (1996) [37], Nguyễn Thế Đặng và cs (2003) [28] cho rằng khái niệm đất đai trong đánh giá đất của FAO rộng hơn khái niệm thổ nhưỡng (soils). Theo Nguyễn Văn Toàn (2003) [54], sự khác nhau giữa chất lượng đất đai 5 (Land Qualities) với chất lượng đất (Soil Qualities) là trong các thuộc tính của chất lượng đất đai, ngoài các yếu tố nền là thổ nhưỡng còn có sự tham gia của các yếu tố khí hậu, các yếu tố nước còn chất lượng đất chỉ bao gồm các yếu tố vật lý và hoá học. Chính vì vậy, Vũ Năng Dũng, Nguyễn Văn Toàn (2005) [24] cho rằng, các bản đồ đất tỉ lệ 1/50.000 của các tỉnh phía Bắc được tiến hành vào những năm 1960 và các bản đồ đất của các tỉnh phía Nam sau năm 1975 mới chỉ phản ánh một phần chất lượng đất với những chỉ tiêu đặc trưng như loại đất, địa hình (độ dốc), tầng dày với những đất đồi núi, những đất đồng bằng là cấp địa hình tương đối và độ dày lớp đất canh tác. Do vậy để đánh giá chính xác chất lượng đất đai đòi hỏi phải đặt yếu tố đất trong mối quan hệ với các yếu tố khí hậu như: Nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, điều kiện tưới và tiêu.
Tất cả các chỉ tiêu này đều được phân cấp theo các mức độ rất thích hợp, thích hợp, ít thích hợp và không thích hợp đối với một cây trồng cụ thể. Việc phân cấp các chỉ tiêu theo ngưỡng mức độ thích hợp là thể hiện chất lượng của chỉ tiêu đó đối với một cây trồng cụ thể cần đánh giá như lúa. Theo FAO (1976) [77], do các khoanh đất đai có chứa đựng các thuộc tính khác nhau nên cần phải tách thành đơn vị đất đai và được thể hiện trên bản đồ. FAO (1983) [78], cho thấy tập hợp các đơn vị bản đồ đất đai trong khu vực hoặc vùng nghiên cứu được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai.
Theo Trần An Phong (1995) [37] do các khu đất đai có các tính chất riêng biệt khác nhau thường được thể hiện bằng các đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Units). Mỗi đơn vị bản đồ đất đai được khoanh định dựa vào tính đồng nhất của các điều kiện tự nhiên trong một khu vực địa lý nhất định. Cũng theo Trần An Phong (1995), tính chất hay chất lượng đất đai là thuộc tính của đất đai có thể được đo lường hoặc ước lượng được thí dụ như độ dốc, lượng mưa, khả năng tưới, ngập lụt. Tự thân từng tính chất đất đai riêng lẻ không có ý nghĩa với việc sử dụng đất.
Do vậy, để so sánh giữa đất đai và việc sử dụng đất đai thường được sử dụng chất lượng đất đai (Land Qualities). Chất lượng đất đai là thuộc tính phức tạp của đất đai có tác động đến khả năng thích hợp của đất đai đối với một loại sử dụng đất nào đó. Chất lượng đất đai thường được nhấn mạnh ở khía cạnh hạn chế. Hệ thống sử dụng đất: Hệ thống sử dụng đất là một loại sử dụng đất cụ thể thực hiện trên một đơn vị đất đai và liên quan đến đầu tư, thu nhập và khả năng cải tạo (FAO, 1983).
Sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp phản ánh các hoạt động khác nhau như các hệ thống (Land Use System - LUS). Những hệ thống sử dụng đất như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp… có mối quan hệ chặt 6 chẽ với các yếu tố liên quan đến sản xuất như kỹ thuật công nghệ, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tổ chức sản xuất, thị trường. Loại sử dụng đất đai chính: Đất đai là nguồn tài nguyên cơ bản cho nhiều phương thức sử dụng (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998) [51]: Sử dụng trên cơ sở sản xuất trực tiếp (làm đất canh tác để trồng trọt, làm đồng cỏ, trồng rừng lấy gỗ.); Sử dụng trên cơ sở sản xuất gián tiếp (như làm bãi chăn thả, chuồng trại chăn nuôi); Sử dụng vì mục đích bảo vệ (chống suy thoái đất, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các loài quý hiếm). Các hình thức sử dụng đất vừa nêu được coi là loại sử dụng đất chính.
Ở thời kỳ bình minh của nhân loại, khi con người mới chỉ tạo ra sản phẩm nông nghiệp bằng hình thức tra lỗ bỏ hạt hay thả rông gia súc trên đồng cỏ tự nhiên, đó là các hình thức của loại sử dụng đất chính được gọi là "canh tác nhờ nước mưa”. Sau này khi thuỷ lợi được áp dụng, con người biết đưa nước từ sông hồ vào đồng ruộng để canh tác lúa và hoa màu. Loại sử dụng đất đai chính "nông nghiệp có tưới" ra đời. Loại sử dụng đất và kiểu sử dụng đất đai (Land Use Type - LUT): Loại sử dụng đất đai là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998) [40]: Các thuộc tính loại sử dụng đất bao gồm quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như kỹ thuật canh tác, sức kéo trong làm đất, đầu tư kỹ thuật và các đặc tính về kinh tế - xã hội như định hướng thị trường, vốn, lao động, vấn đề sở hữu đất đai.
Đất lúa: Theo Nghị định số 42/2012/NĐ-CP [19], thì đất lúa bao gồm những đất có điều kiện phù hợp để có thể gieo trồng từ một vụ lúa nước trở lên trong một năm, ngoại trừ đất trồng lúa nương. Các loại sử dụng đất lúa được phân chia chi tiết gồm: (i) Đất chuyên lúa 2 vụ: là đất hiện đang được trồng hoặc có đủ điều kiện trồng từ 2 vụ lúa trở lên trong năm; (ii) Đất chuyên lúa 1 vụ: là đất chỉ trồng được 1 vụ lúa trong năm; (iii) Đất lúa - màu: là đất đang được trồng 1 vụ lúa và luân canh với 1 vụ rau màu trở lên trong năm và (iv) Đất lúa - thuỷ sản: là đất đang được trồng một vụ lúa trong một năm và luân canh nuôi trồng thủy sản. Theo Thông tư số 28/2014/TT- BTNMT ngày 02/6/2014 [9]: Đất lúa là đất ruộng và nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc trồng lúa kết hợp với các mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính. Đất trồng lúa bao gồm: Đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại và đất lúa nương.
Quản lý Nhà nước đối với đất lúa Dẫn theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012) [8], Quản lý Nhà nước về đất đai có thể có nhiều nghĩa khác nhau tại các nước khác nhau. Quản lý Nhà nước về đất đai có thể đồng nghĩa với quản lý đất đai, tập trung vào cách thức Chính phủ xây dựng và thực hiện các chính sách đất đai và quản lý đất đa i cho tất cả các loại đất không phân biệt quyền sử dụng đất. Cụ thể hơn, đây là quá trình Nhà nước quản lý đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước và giao đất cho các mục đích sử dụng khác nhau. Cũng theo Bộ tài nguyên và môi trường (2012) [8], thì “Quản lý Nhà nước là một thuật ngữ được sử dụng chủ yếu tại các nước mà đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước để mô tả cách thức Nhà nước quản lý và kiểm soát việc sử dụng đất.
Những nước thừa nhận quyền sở hữu chủ yếu tư nhân về đất đai, nhiệm vụ của công tác quản lý đất đai của Chính phủ là giám sát việc sử dụng đất thông qua hệ thống quy hoạch sử dụng đất và hệ thống địa chính. Quản lý đất đai (Land management) bao gồm các quy trình để sử dụng tài nguyên đất có hiệu quả. Đây chủ yếu là trách nhiệm của chủ sở hữu đất. Chính phủ cũng có mục tiêu tăng cường quản lý đất đai hiệu quả như là một phần của mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội bền vững.