Chương 1 Hiệu quả quản lý dự án uỷ thác đầu tư vốn nước ngoài tại ngân hàng thương mại 1. ủy thác đầu tư và Dự án uỷ thác đầu tư vốn nước ngoài tại ngân hàng thương mại 1. Hoạt động uỷ thác đầu tư vốn nước ngoài tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm uỷ thác đầu tư vốn Hoạt động uỷ thác là một hoạt động thể hiện rõ tính trung gian của các tổ chức cung cấp dịch vụ uỷ thác; cho phép những người không có điều kiện kinh doanh hay quản lý tài sản của mình tìm tới một đội ngũ những nhà chuyên môn có khả năng hoàn thành những mục tiêu mà họ mong muốn.
Việc này là hoàn toàn có lợi không chỉ xét từ góc độ người uỷ thác và người nhận uỷ thác mà còn cho cả xã hội vì nó làm giảm chi phí chung cho toàn xã hội và hiệu quả hơn cho nền kinh tế xã hội. Từ những lý do nêu trên, luận văn rút ra khái niệm hoạt động uỷ thác đầu tư vốn nước ngoài của các NHTM như sau: Uỷ thác đầu tư vốn nước ngoài là một hoạt động, trong đó bên nhận uỷ thác (thuộc nước tiếp nhận uỷ thác) thực hiện việc quản lý, sử dụng vốn theo cách đã thoả thuận với bên uỷ thác (thuộc nước ngoài), thoả thuận này được quy định chi tiết bằng văn bản trong hợp đồng uỷ thác, nhằm đem lại lợi ích cho bên uỷ thác. Vốn ủy thác đầu tư vốn nước ngoài từ khái niệm trên được hiểu bao gồm: Một công việc hay bất động sản, chứng khoán, tiền của một ngườ i hay nhiều người. Những người có vốn đem giao cho người khác quản lý, sử dụng hộ được gọi chung là bên uỷ thác.
Bên tiếp nhận quản lý số vốn này gọi là bên nhận uỷ thác. Trong hoạt động này, bên uỷ thác sẽ trả cho bên nhận uỷ thác một khoản tiền để quản lý, sử dụng vốn của mình gọi là phí uỷ thác. Mức phí này tuỳ thuộc vào tính chất cũng như khả năng sinh lời của vốn. Hoạt động uỷ thác đầu tư vốn nước ngoài Tuỳ theo mỗi góc độ tiếp cận mà có cách phân loại hoạt động uỷ thác đầu tư vốn nước ngoài.
Nếu xét theo mục đích ủy thác: Có 3 loại chủ yếu: - Thứ nhất, ủy thác vốn, còn gọi là tín dụng ủy thác. uỷ thác vốn có hai hoạt động chính là nhận vốn ủy thác và cho vay ủy thác. Bộ phận nhận ủy thác sẽ tiếp nhận vốn từ bên ủy thác và dùng vốn này để đem cho khách hàng có nhu cầu vay vốn vay, gọi là bên vay. Khi thực hiện hai hoạt động này, bên nhận ủy thác sẽ được hưởng một mức phí, là khoản tiền mà bên nhận ủy thác được hưởng từ việc thực hiện dịch vụ ủy thác cho vay.
Khoản tiền này được xác định trên cơ sở mức phí ủy thác, số tiền nhận ủy thác thực tế và số ngày thực hiện dịch vụ ủy thác thực tế. - Thứ hai, uỷ thác đầu tư. uỷ thác đầu tư là việc bên ủy thác giao cho bên nhận ủy thác vốn của mình để bên nhận ủy thác quản lý và làm cho giá trị của vốn ủy thác gia tăng. Bên nhận ủy thác có toàn quyền định đoạt vốn ủy thác, nhưng không được nhận lợi ích từ vốn này mang lại mà chỉ được nhận phí quản lý vốn đó.
- Thứ ba, uỷ thác thực hiện công việc. uỷ thác thực hiện công việc, bộ phận ủy thác sẽ nhận trách nhiệm thực hiện tất cả các công việc mà khách hàng ủy thác cho họ làm như: Đàm phán ký kết hợp đồng, dàn xếp thuê mua tài chính, phát hành trái phiếu, làm đại lý. Uỷ thác thực hiện công việc rất đa dạng phụ thuộc vào nhu cầu thực tế của các chủ thể trong nền kinh tế. Nếu xét theo đối tượng phục vụ uỷ thác: Có 3 loại chủ yếu: - Thứ nhất, đối với cá nhân: Hầu hết các dịch vụ uỷ thác đối với cá nhân đều được thực hiện bởi các NHTM và để đáp ứng với các nhu cầu đa dạng của các cá nhân nên loại hình dịch vụ uỷ thác này rất phong phú.
- Thứ hai, đối với doanh nghiệp. Hầu hết các dịch vụ ủy thác được thiết lập bởi các doanh nghiệp nhằm 5 phục vụ cho các mục đích trợ cấp hưu trí, phân chia lợi nhuận và chia tiền thưởng cổ phần, cho phát hành trái phiếu, cho mua lại các quỹ và giữ lại các quỹ để thanh toán cho việc phát hành trái phiếu ủy thác thế chấp hoặc các giấy chứng nhận, ủy thác đàm phán ký kết hợp đồng, dàn xếp thuê mua tài chính và quản lý vốn và tài sản cho doanh nghiệp. - Thứ ba, đối với các tổ chức khác: Thông thường loại dịch vụ này được thực hiện cho các tổ chức phi chính phủ như các tổ chức hỗ trợ phát triển, tổ chức nhân đạo, tổ chức chính trị - xã hội. Các tổ chức này thông qua bộ phận ủy thác để chuyển tiền và hiện vật dưới dạng quà biếu, tặng thưởng nhằm đẩy mạnh việc nghiên cứu, trợ giúp các trường học, tổ chức từ thiện nhân đạo cho người nghèo, người tàn tật.
Bộ phận ủy thác cũng có thể đóng vai trò 1à người đại diện quản lý đầu tư đối với quỹ quyên góp. Dự án uỷ thác đầu tư vốn nước ngoài tại NHTM 1. Khái niệm dự án uỷ thác đầu tư vốn nước ngoài Dự án uỷ thác đầu tư vốn nước ngoài là dự án trong đó cơ quan thực hiện dự án nhận vốn từ nhà tài trợ (thuộc nước ngoài) để đầu tư lại cho các đối tượng hưởng lợi từ dự án, vùng dự án với lãi suất, thời hạn, lĩnh vực đầu tư, được qui định cụ thể trong hiệp định vay vốn. Nhằm thực hiện chương trình tài trợ cụ thể của mình, các nhà tài trợ tiến hành tài trợ vốn dưới hình thức có hoàn lại và không hoàn lại để thực hiện các chương trình, mục tiêu của dự án.
Theo đó bên nước ngoài sau khi khảo sát bước đầu, thường quy định cụ thể thời gian hoàn vốn, lãi suất, phí dự án, đối tượng, phạm vi đầu tư của dự án. Tiếp đến ký kết hiệp định vay vốn với bên nước ngoài (hoặc bên cho vay lại), NHTM (bên sử dụng vốn uỷ thác) chịu trách nhiệm sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi theo đúng hợp đồng ký kết. Dự án uỷ thác đầu tư (DAUTĐT) vốn nước ngoài là một dự án đầu tư vốn, nên nó mang đầy đủ tính chất và nội dung của một dự án đầu tư vốn; 6 nhưng do là một DAUTĐT vốn nước ngoài nên ngoài các nội dung của một dự án đầu tư vốn thông thường, nó còn chứa đựng những đặc trưng sau: 1. Đặc trưng dự án đầu tư vốn nước ngoài tại NHTM Một là, thực hiện bằng vốn nước ngoài.
Dự án được thực hiện bằng vốn nước ngoài, nên luân chuyển vốn phải theo loại hình đầu tư quốc tế, bao gồm: Đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI). + Đầu tư trực tiếp (FDI): Đầu tư trực tiếp là hình thức luân chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó, chủ sở hữu vốn đồng thời là chủ thể trực tiếp tham gia quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư. Chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để trở thành chủ sở hữu toàn bộ hay từng phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý điều hành hoặc tham gia quản lý điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Đồng thời, họ cũng chịu trách nhiệm theo mức sở hữu về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đó.
+ Đầu tư gián tiếp (FPI): Đầu tư gián tiếp là một loại hình luân chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó người sở hữu vốn không trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn. Thực chất, chủ đầu tư không trực tiếp chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư, mà chỉ hưởng lãi suất theo tỷ lệ công bố trước của số vốn mà họ đầu tư thông qua một số đối tác ở các quốc gia tiếp nhận vốn. Hai là, thực hiện theo các cơ chế về UTĐT vốn nước ngoài: - Uỷ thác và nhận ủy thác đầu tư (UTĐT) vốn, thu nợ của bên uỷ thác và bên nhận UTĐT, nhằm đưa vốn của bên uỷ thác thông qua hợp đồng cho bên nhận uỷ thác trực tiếp đầu tư đến khách hàng thực hiện phương án, dự án đầu tư phát triển, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống và xoá đói giảm nghèo. - Bên UTĐT vốn gồm: Chính phủ, các tổ chức, kinh tế, các tổ chức 7 chính trị - xã hội, cá nhân trong và ngoài nước và các tổ chức tín dụng có nhu cầu đầu tư vốn đến các đối tượng khách hàng.
- Bên nhận UTĐT là các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng có chức năng cấp tín dụng dưới hình thức đầu tư vốn theo quy định của pháp luật. - Khách hàng vay vốn là các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình là khách hàng vay vốn của bên nhận UTĐT vốn. Ba là, uỷ thác và nhận UTĐT vốn được thực hiện với một số nguyên tắtc: - Việc uỷ thác và nhận UTĐT vốn phải thực hiện thông qua hợp đồng UTĐT vốn giữa bên uỷ thác và bên nhận UTĐT; - Khách hàng vay, đối tượng cho vay, điều kiện cho vay, mức vốn cho vay, lãi suất cho vay, gia hạn nợ, bảo đảm tiền vay, xử lý rủi ro do bên uỷ thác và bên nhận UTĐT vốn thoả thuận và cam kết ghi trong hợp đồng phù hợp các quy định của pháp luật; - Bên uỷ thác được quyền lựa chọn bên nhận UTĐT vốn đảm bảo an toàn, hiệu quả, trừ trường hợp Chính phủ hoặc cơ quan có thẩm quyền chỉ định bên nhận UTĐT vốn. - Bên nhận UTĐT vốn phải có đủ các điều kiện: có chức năng đầu tư vốn dưới hình thức cho vay vốn theo quy định của pháp luật; có mạng lưới tổ chức để đáp ứng được yêu cầu trực tiếp cho vay và thu nợ đến tận các đối tượng khách hàng; có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn và kinh nghiệ m trong việc thực hiện đầu tư vốn; và không vi phạm các quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng, có tín nhiệm trong việc đầu tư vốn, thu nợ và bảo đảm an toàn vốn đầu tư.