Chương 1: Tổng quan về công tác quản lý Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Bắc sông Cấm. Chương 2: Cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học về quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Chương 3: Đề xuất giải pháp quản lý Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Bắc sông Cấm. Phần kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Học viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Thu 16 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG HỆ THỐNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHU ĐÔ THỊ MỚI BẮC SÔNG CẤM 1.
Tổng quan về công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng tại Việt Nam. Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam Từ năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, công tác quản lý dự án bắt đầu phát triển ở Việt Nam trong mọi ngành nghề, đặc biệt trong ngành xây dựng cơ bản. Tuy nhiên hiện nay kinh nghiệm và sự hiểu biết về quản lý dự án tiên tiến của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và sự phát triển của thời đại. Điển hình rõ nét nhất là các dự án lớn, phức tạp, có nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đều được quản lý bởi các công ty, tổ chức quản lý dự án nước ngoài.
Một vài dự án lớn cũng được quản lý bởi các công ty, tổ chức quản lý dự án trong nước, tuy nhiên đã bộc lộ ra nhiều yếu kém, khuyết điểm và sai sót làm cho chủ đầu tư và các cấp chính quyền hoài nghi khả năng công tác quản lý dự án của các công ty Việt Nam. Hiện nay trên thị trường quản lý dự án, các công ty, tổ chức quản lý dự án lớn, có tên tuổi đều là những công ty nước ngoài hoặc có nguồn vốn và được quản lý bởi người nước ngoài như Capital của Anh, Delta của Mỹ, CDW của Hà Lan, Nippon Koei của Nhật. Các công ty, tổ chức quản lý dự án nước ngoài hội tụ đầy đủ các điều kiện về kinh nghiệm, công nghệ, nguồn vốn chiếm ưu thế hơn so với các công ty, tổ chức quản lý dự án trong nước, từ đó chiếm thị phần áp đảo cho các dự án lớn, phức tạp, đòi hỏi công nghệ và chất lượng cao. Các công ty, tổ chức quản lý dự án trong nước hướng vào thị trường nội địa có vốn đầu tư của nhà nước.
Các bộ phận trong nước gói gọn hoạt động trong một mảng thị trường nhỏ hẹp và không có điều kiện đương đầu với những thách thức mới trong quản lý dự án. Điều đó làm cho các bộ phận này khó có khả năng nâng cao trình độ, tích lũy kinh nghiệm và hạn chế năng lực cạnh tranh với các công ty, tổ chức quản lý dự án nước ngoài khi tham gia các dự án lớn. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các công ty, tổ chức quản lý dự án trong nước mất dần thị phần vào tay các công ty nước ngoài. Các công ty trong nước cùng lúc phải đương đầu với 2 khó khăn: Cạnh tranh giữa các công ty, tổ chức quản lý dự án trong nước, nâng cao công nghệ quản lý dự án để cạnh tranh với các công ty nước ngoài.
Điều đó cũng làm nản lòng các công ty trong nước. Cùng với sự phát triển của ngành xây dựng, các dự án ngày càng gia tăng cả về số lượng, quy mô lẫn yêu cầu cao hơn về chất lượng. Những yêu cầu cao của dự Học viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Thu 17 án đòi hỏi kỹ năng quản lý phải được nâng lên một tầm cao mới. Tuy nhiên hiện nay, các công ty, tổ chức quản lý dự án trong nước không thường xuyên nghiên cứu những ảnh hưởng mới trong công tác quản lý dự án mà thường đi theo những phương pháp quả lý sẵn có một cách thụ động.
Quy mô dự án càng lớn, phạm vi hoạt động càng rộng, các công ty, tổ chức quản lý dự án càng lúng túng trong vấn đề kiểm soát và thiết lập hệ thống quản lý. Bên cạnh đó, không có sự liên kết giữa các công ty, tổ chức quản lý dự án trong nước để tăng sức mạnh trong lĩnh vực quản lý dự án, vì vậy khoảng cách về trình độ quản lý dự án giữa các công ty, tổ chức quản lý dự án trong nước với các công ty nước ngoài ngày một cách xa. Có thể nói, công tác quản lý dự án của Việt Nam vẫn mang nặng hình thức quản lý sẵn có, không thường xuyên cập nhật, đổi mới các phương pháp quản lý mới, có khoảng cách xa so với trình độ và công nghệ quản lý dự án của các nước phát triển, chưa theo kịp sự phát triển và nhu cầu của thời đại. Các hình thức quản lý dự án tại Việt Nam Hiện nay tại Việt Nam có 2 hình thức quản lý dự án: - Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án khi có đủ năng lực; - Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án khi không có điều kiện năng lực.
Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án Trường hợp chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án thì chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án để giúp chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án. Ban quản lý dự án phải có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án theo yêu cầu của chủ đầu tư. Ban quản lý dự án có thể thuê tư vấn quản lý, giám sát một số phần việc mà ban quản lý dự án không có đủ điều kiện, năng lực để thực hiện nhưng phải được sự đồng ý của chủ đầu tư. Đối với dự án có quy mô nhỏ, đơn giản có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng thì chủ đầu tư có thể không lập Ban quản lý dự án mà sử dụng bộ máy chuyên môn, kinh nghiệm để quản lý thực hiện dự án.
Hình thức chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án Trường hợp chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án thì tổ chức tư vấn đó phải có đủ điều kiện năng lực tổ chức quản lý phù hợp với quy mô, theo tính chất của dự án. Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý dự án được thực hiện theo hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên. Tư vấn quản lý dự án được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn tham gia quản lý nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp với hợp đồng đã ký với chủ đầu tư. Khi áp dụng hình thức thuê tư vấn quản lý dự án, chủ đầu tư vẫn phải sử dụng các đơn vị chuyên môn thuộc bộ máy Học viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Thu 18 của mình hoặc chỉ định đầu mối để kiểm tra theo dõi việc thực hiện hợp đồng của tư vấn quản lý dự án.
Một số nội dung quản lý dự án phổ biến tại Việt Nam Quản lý phạm vi dự án: Tiến hành khống chế quá trình quản lý đối với nội dung công việc của dự án nhằm thực hiện mục tiêu của dự án. Bao gồm công việc phân chia phạm vi, quy hoạch phạm vi, điều chỉnh phạm vi dự án. Quản lý thời gian dự án: Quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo chắc chắn hoàn thành dự án theo đúng thời gian đề ra. Bao gồm các công việc như xác định hoạt động cụ thể, sắp xếp trình tự hoạt động, bố trí thời gian, khống chế thời gian và tiến độ dự án.
Quản lý chi phí dự án: Quản lý chi phí, giá thành dự án nhằm đảm bảo hoàn thành dự án mà chi phí không vượt quá mức trù bị ban đầu. Bao gồm việc bố trí nguồn lực, dự tính giá thành và khống chế chi phí. Quản lý chất lượng dự án: Quản lý có hệ thống việc thực hiện dự án nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lượng mà khách hàng đặt ra. Bao gồm việc quy hoạch chất lượng, khống chế chất lượng và đảm bảo chất lượng.
Quản lý nguồn nhân lực: Đảm bảo phát huy hết năng lực, tính tích cực, sáng tạo của mỗi người trong dự án và tận dụng nó một cách hiệu quả nhất. Bao gồm các việc như quy hoạch tổ chức, xây dựng đội ngũ tuyển chọn nhân viên và xây dựng các ban dự án. Quản lý việc trao đổi thông tin của dự án: Biện pháp mang tính hệ thống nhằm đảm bảo việc truyền đạt, thu thập, trao đổi một cách hợp lý các tin tức cần thiết cho việc thực hiện dự án cũng như việc truyền đạt thông tin, báo cáo tiến độ dự án. Quản lý rủi ro trong dự án: Là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm tận dụng tối đa những nhân tố có lợi không xác định và giảm thiểu tối đa những nhân tố vất lợi không xác định cho dự án.
Bao gồm việc nhận biết, phân biệt rủi ro, cân nhắc, tính toán rủi ro, xây dựng đối sách và khống chế rủi ro. Những đổi mới tích cực trong công tác quản lý dự án tại Việt Nam thời gian qua Quản lý nhà nước về quản lý dự án đầu tư xây dựng đã được hình thành tương đối đầy đủ và liên tục được hoàn thiện. Môi trường pháp lý được quan tâm và thường xuyên bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với tình hình xây dựng ở Việt Nam. Học viên thực hiện: Vũ Thị Ngọc Thu 19 Theo đó, công tác quản lý dự án đã quy củ hơn trên cơ sở văn bản pháp quy ngày càng đồng bộ.
Theo quy định của nhà nước, các tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với loại dự án, loại cấp công trình và công việc theo quy định. Tổ chức, cá nhân tham gia công tác quản lý dự án từng bước được chuẩn hóa và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn dưới hình thức văn bằng, chứng chỉ hành nghề hoặc các điều kiện về năng lực phù hợp với công việc đảm nhận. Năng lực thực hiện điều hành, quản lý các dự án lớn đã có bước tiến bộ. Bằng nhiều hình thức khác nhau và qua thực tế thực hiện dự án, có nhiều cán bộ đã được làm quen với công nghệ quản lý dự án hiện đại, tiên tiến và tích lũy được kinh nghiệm.
Những tồn tại trong công tác quản lý dự án tại Việt Nam 1. Cơ chế chính sách Chính sách, chế độ của nhà nước về xây dựng cơ bản ban hành chậm, thiếu, không đồng bộ, thường xuyên thay đổi làm hạn chế việc thực hiện và phát triển công tác quản lý dự án.