MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu của đời sống con người. Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước , của doanh nghiệp của người dân dành cho xây dựng là rất lớn, chiếm từ 25 – 30% GDP. Vì vậy, chất lượng công trình xây dựng là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người.
Trong thời gian qua, cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi… góp phần quan trọng vào hiệu quả của nền kinh tế quốc dân gơp phần phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân. Thời gian qua, cùng với việc phát triển kinh tế đất nước, công nghệ xây dựng đã có những tiến bộ đáng kể, công tác quản lý chất lượng công trình (CLCT) xây dựng ngày càng được nâng cao. Chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình đạt chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ, góp phần quan trọng trong tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn không ít các công trình chưa đáp ứng được yêu cầu, gây mất an toàn, tốn kém cả về kinh phí lẫn thời gian cho việc sửa chữa, khắc phục.
Công trình xây dựng nói chung và công trình Đập Xà lan nói riêng là những công trình có vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng và sử dụng lâu dài, liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủy sản. Do vậy công trình khi xây dựng phải đạt được 3 yếu tố: tiến độ, giá thành, chất lượng. 3 yếu tố này có liên quan mật thiết với nhau và chính là các yếu tố để cấu thành chất lượng xây dựng công trình. Để công trình xây dựng có chất lượng, thì điều kiện quyết định là những người trực tiếp làm ra sản phẩm bao gồm đội ngũ công nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư luôn phải có nhiệt tình trong lao động, am hiểu về kỹ thuật nghề nghiệp.
Trong công việc phải luôn luôn chú ý và làm tốt ngay từ những khâu đầu tiên, khi thấy sai phải sửa 2 chữa khắc phục nhanh chóng và triệt để. Trong công tác giám sát hay công tác kiểm tra đôn đốc và chỉ đạo, đánh giá công việc của những người tham gia công trình cũng có những tác dụng phòng ngừa nhất định. Theo đó từng hạng mục công trình, công việc chính đối tượng và lấy pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật hay các văn bản quy định về chất lượng công trình làm cơ sở để đánh giá chất lượng. Công tác giám sát phải được thực hiện ngay từ những khâu chuẩn bị đầu tiên cho tới các khâu thực hiện dự án và đưa công trình vào sử dụng.
Việc thực hiện quản lý chất lượng thi công đã được quy định, hướng dẫn trong nhiều văn bản như nghị định 209/2005 NĐ-CP, nghị định 12/2009 NĐ-CP, nghị định 15/2013 NĐ- CP đã dần cụ thể hóa vai trò của từng đơn vị trong công tác Quản lý chất lượng công trình. Tuy nhiên công tác quản lý chất lượng công trình Đập Xà lan hiện nay là một vấn đề cần được nghiên cứu, coi trọng nhất là trong bối cảnh công nghệ mới này hiện đang ngày càng áp dụng phổ biến trong xây dựng thủy lợi. Để công trình Đập Xà lan thi công đúng tiến độ và chất lượng thì công tác quản lý chất lượng công trình bao gồm nhiều thành phần tham gia và ở nhiều công đoạn giữ vai trò quan trọng và quyết định. Vì vậy đề tài luận văn: “Quản lý chất lượng thi công Đập Xà lan” nhằm từng bước tiếp cận một cách mạnh mẽ, sâu rộng hơn việc quản lý chất lượng xây dựng các công nghệ mới, góp phần phục vụ nhu cầu cấp bách của thực tế sản xuất, xây dựng là một đề tài có một ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
Mục đích của Đề tài Qua đề tài “Quản lý chất lượng thi công Đập xà lan” tác giả đưa ra các kiến nghị và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng công trình Đập xà lan qua các công đoạn xây dựng khác nhau. Qua nghiên cứu tác giả đưa ra kiến nghị và đề xuất về giải pháp, mô hình quản lý CLCT Đập Xà lan phù hợp với điều kiện nước ta trong tình hình xây dựng hiện nay. Qua đề tài nghiên cứu này, tác giả cũng đã đi sâu vào xây dựng và nghiên cứu ứng dụng đối với công trình cụ thể, đưa ra các biểu mẫu đi kèm phục vụ cho công 3 tác nghiệm thu công trình Đập xà lan, hoàn thiện các mẫu biên bản góp phần nâng cao chất lượng công trình. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng: Đập Xà lan - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý chất lượng thi công Đập Xà lan.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Cách tiếp cận: - Tìm hiểu các tài liệu văn bản pháp luật liên quan đến công tác Quản lý chất lượng: Luật Xây Dựng; Thông tư 03/2009/TT-BXD; nghị định 12/2009/NĐ-CP, nghị định 15/2013 NĐ-CP và các văn bản khác liên quan. - Điều tra, khảo sát thực tế; Phương pháp nghiên cứu: - Nghiên cứu tổng quan lý thuyết và thực tiễn; - Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng quản lý chất lượng công trình hiện nay; - Nghiên cứu các giải pháp khắc phục các khó khăn trong công tác Quản lý chất lượng. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG 1. Các quy định về quản lý chất lượng và mối quan hệ giữa tư vấn giám sát với các đơn vị.
Các quy định về quản lý chất lượng công trình Quản lý CLCT xây dựng là một vấn đề sống còn được Nhà nước và cộng đồng hết sức quan tâm. Nếu công tác quản lý CLCT xây dựng thực hiện tốt sẽ không xảy ra sự cố, tuổi thọ công trình đáp ứng thời gian quy định trong hồ sơ thiết kế, phát huy hiệu quả dự án, đáp ứng đầy đủ nhiệm vụ theo quyết định phê duyệt. Do vậy, trong công tác xây dựng nói chung và công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, nhà nước ta đã ban hành nhiều luật, tiêu chuẩn, nghị định để quy định, hướng dẫn công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng. Có thể kể ra một số các luật, tiêu chuẩn, nghị định về quản lý chất lượng công trình như: 1.
Luật Xây dựng (Ban hành ngày 26/11/2003 theo Nghị quyết số 16/2003/ QH11 của Quốc Hội); 2. Nghị định 15 (Ban hành ngày 06/02/2013 kèm theo quyết định số 15/2013/NĐ-CP của Chính Phủ) về việc quản lý chất lượng công trình xây dựng; 3. Thông tư số 10 (Ban hành ngày 25/07/2013 theo số 10/2013/TT-BXD của Bộ Xây dựng về việc Quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng công trình xây dựng; 5. Dự thảo Nghị định về việc quản lý chất lượng công trình xây dựng (Căn cứ Quyết định số 363/QĐ-BXD ngày 08/4/2011 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập Nghị định về quản lý chất lượng công trình xây dựng).
Nghị định 209 (Ban hành ngày 16/12/2004 theo số 209/2004/NĐ-CP của Chính Phủ) về việc quản lý chất lượng công trình xây dựng. Mối quan hệ giữa tư vấn giám sát với các đơn vị Tư vấn giám sát và chủ đầu tư, nhà thầu và đơn vị tư vấn thiết kế có mối quan hệ qua lại với nhau. Mối quan hệ này được thể hiện qua sơ đồ dưới đây: Hình 1-1. Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các đơn vị.
Trong sơ đồ trên: A: Chủ đầu tư; B: Tư vấn thiết kế; C: Nhà thầu thi công; D: Tư vấn giám sát. Quan hệ D-A: Quan hệ hợp đồng Quan hệ D-B: Quan hệ phối hợp trên cơ sở trao đổi, kiểm tra phát hiện sai sót, bổ sung nhằm hoàn chỉnh hồ sơ thiết kế. Quan hệ D-C: Quan hệ giữa người giám sát và người chịu giám sát Cụ thể mối quan hệ giữa tư vấn giám sát và các đơn vị còn lại như sau: 1. Quan hệ giữa tư vấn giám sát với chủ đầu tư - Mối quan hệ giữa tổ chức tư vấn giám sát với chủ đầu tư là mối quan hệ hợp đồng.
Trong đó tổ chức tư vấn giám sát có nghĩa vụ thực hiện đúng các nội dung trong hợp đồng đã ký. Hoạt động của tư vấn giám sát phải đảm bảo tính trung thực, khách quan, không vụ lợi. Về phía chủ đầu tư, chủ đầu tư không được tự ý thay đổi 6 phạm vi uỷ quyền hoặc có những can thiệp làm ảnh hưởng đến tính trung thực khách quan, không vụ lợi của tổ chức tư vấn giám sát. - Trong hợp đồng tư vấn giám sát giữa chủ đầu tư và tổ chức tư vấn giám sát phải thể hiện được đầy đủ về nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của từng bên.
Như vậy, mối quan hệ này là mối quan hệ độc lập, không phụ thuộc, hoạt động của từng bên được căn cứ trên hợp đồng thỏa thuận và các quy định hiện hành của nhà nước trong hoạt động xây dựng. Quan hệ giữa tổ chức tư vấn giám sát với nhà thầu - Đây là mối quan hệ giữa người giám sát với người chịu giám sát. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tư vấn giám sát và nhà thầu đều được quy định trong hợp đồng với chủ đầu tư và phải đảm bảo tuân theo các quy định hiện hành. - Các nguyên tắc trong quan hệ giữa tổ chức tư vấn giám sát và nhà thầu: [5] + Các bên phải tạo điều kiện cho cho nhau để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, cùng hợp tác giải quyết khó khăn trong quá trình thực hiện dự án, không gây trở ngại hoặc đưa ra các yêu cầu bất hợp lý cho bên kia.
Phát hiện và kịp thời cải tiến các tác nghiệp nghiệp vụ, đặc biệt trong các quy định về nghiệm thu, thanh toán để kịp thời giải ngân, thúc đẩy tiến độ của dự án (gói thầu). + Nhà thầu phải thông báo kịp thời cho tổ chức tư vấn giám sát bằng văn bản về thời gian, vị trí, nội dung công việc bắt đầu thi công, những công việc đã kết thúc thi công theo quy định của hồ sơ thầu và được hệ thống kiểm tra chất lượng nội bộ kiểm tra đánh giá, chấp thuận. Văn bản thông báo phải gửi trước cho tổ chức tư vấn giám sát ít nhất 24 giờ. + Khi tổ chức tư vấn giám sát yêu cầu nhà thầu thực hiện các công việc theo đúng hợp đồng, nhà thầu phải thực hiện kịp thời và đầy đủ.