CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Những nhận thức chung về quản lý rừng bền vững Rừng là tài nguyên vô cùng quý báu của mỗi quốc gia nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung. Rừng không những là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái mà còn có giá trị to lớn về mặt kinh tế, xã hội. Do vậy, tài nguyên rừng cần được quản lý bền vững và đây là xu thế.
phát triển lâm nghiệp của thế giới hiện nay. Từ lâu, vấn đề QLRBV-đã được các nhà lâm học, các quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức trên thé idi xem là vấn đề cơ bản, quan trọng, cần phải quan tâm. Ngày nay, đi cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới là sự ô nhiễm môi trường, sự thay đổi khí hậu toàn cầu, bên cạnh đó nhu cầu của con người về các sản phẩm của ngành lâm nghiệp cũng như nhu cầu về canh tác, dất Xây, Pine cơ sở hạ tầng,vv. ngày càng tăng cao, tạp áp lực ngày cầng lớn Vào tài nguyên rừng thì vấn đề QLRBV càng trở nên quan trọng: hơn, cấp thiết hơn và đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý Kinh doanh Từng, đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng cần phải đạt tới.
Hiện nay trên thế giới có những khái niệm khác nhau về QLRBV, nhưng có hai khái niệm được quan tâm nhiều nhất, đó là: - Theo tổ chức gỗ nhiệt đới (ITTO) thì: “QLRBV là quá trình quản ly những diện tích rừng: cố định, nhằm đạt được mục tiêu là đảm bảo xuất liên tục những sản phẩm: _ địch vụ rừng như mong muốn mà không làm giảm đáng kể những Si trị đi truyền và năng suất tương lai của rừng, không gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường vật lý và xã hội”. - Theo tiến trình Helsinki thì: “QLRBV là quản lý rừng và đất rừng một cách hợp lý để duy trì tính đa dạng sinh học (ĐDSH), năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, đồng thời duy trì tiềm năng thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội và sinh thái của chúng trong hiện tại cũng như trong tương lai, 3 ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái (HST) khác”. Các khái niệm này đều nói nên được mục tiêu chung của QLRBV là đạt được sự én định về diện tích, đảm bảo bền vững về tính ĐDSH và hiệu quả về mặt kinh tế cũng như về môi trường sinh thái của rừng. QLRBV dựa vào các nguyên lý chủ yếu sau: ~ Nguyên lý thứ nhất là sự bình đẳng giữa các thể hệ tron sử dụng tài nguyên rừng: Cuộc sống con người luôn gắn với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và để sử dụng nó, chúng ta cần phải bão vệ nó vì tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận.
Vấn đề chìa khóa để đảm bảo nguyên lý bình đẳng giữa các thế hệ trong quản lý tài nguyên rừng là đảm bảo năng suất và các điều kiện tái sinh của nguồn tài nguyên tó khả năng tái tạo này. Một trong những nguyên tắc cần tuần thủ là tỷ lệ sử dụng lâm sản không được vượt quá khả năng tái sinh của rừng. 9 = - Nguyén ly thir hai 1a trong, quan Wì tài nguyên rừng bền vững, sự phòng ngừa được hiểu là ở đâu Cổ những nguy cơ thoái hóa nguồn tài nguyên rừng và chưa có đủ cơ sở khoa học thì chưa nên sử dụng biện pháp phòng ngừa suy thoái về môi trường. _ - Nguyên lý thứ ba là sự bình đẳng và công bằng trong sử dụng tài nguyên rừng ở cùng thế hệ Đi là một vấn đề khó, bởi vì trong khi cố tạo ra sự công bằng cho các thế ,hệ tương lai thì chúng ta vẫn chưa tạo ra được những cơ hội binirdang cho những ngưới sống ở thế hệ hiện tại.
-Nguyên Ty thir at 1à tính hiệu quả: Tài nguyên rừng phải được sử dụng hợp lý và hiệu quả nhất về mặt kinh tế và sinh thái. QLRBV trên thế giới. Khi chưa có sự xuất hiện của con người, rừng che phủ hầu hết đất đai của các lục địa. Khi mới xuất hiện, con ngưới sống phụ thuộc hoàn toàn vào rừng bằng các hoạt động săn bắn và hái lượm, các hoạt này không gây thiệt hại gì cho rừng, đến khi con người bắt đầu biết chăn nuôi và trồng trọt thì con 4 người có những hoạt động gây tác hại đến rừng, mặc dù các tác động này có phan nào hạn chế sự phát triển của rừng nhưng cũng chưa ảnh hưởng đáng kể đến tài nguyên rừng.
Thực chất, từ xa xưa công tác QLBVR đã được con người quan tâm, những khu rừng được quản lý bảo vệ chủ yếu là rừng cắm của các vua chúa với mục đích không phải vì lợi ích của cộng đồng và xã hội mà chủ yếu là đẻ phục vụ nhu cầu săn bắn, giải trí, vv. cho cuộc sống Vua chúa, quan lại. 'Vào đầu thế kỷ XVIII, các nhà lâm học Đức như Harti G. đã đề xuất nguyên tắc sử dụng lâu bền đối với rửng thi ần lớài đồng tuổi, các nhà khoa học người Pháp (Gournand, 1992) và người Thụy Sĩ (H.Biolley) cũng đề ra phương pháp kiểm tra, điều chỉnh sin lượng đối với rừng khác tuổi khai thác chọn.
\ Ty Trong giai đoạn đầu thế kỷ XX hE thống quản lý tài nguyên rừng tập trung thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, công tác quản lý tài nguyên rừng trong giai đoạn này đã bỏ qua vai trò của cộng đồng và người dân 'ban dja. : Vào cuối thé ky XX, » khi tai nguyên rừng đã bị suy thoái nghiêm trọng, thì con người mới nhận thức được rằng tài nguyên rừng là có hạn và cần được bảo vệ. Nếu theo đà mỗi năm ;mắt khoảng 15 triệu ha như số liệu thống kế của ăm, nửa rừng nhiệt đới sẽ hoàn toàn bị biến mắt, loài họa khôn lường về kinh tế, xã hội và môi trường.
Công cụ để quân lý sử dụng bền vững tài nguyên rừng bao gồm các quy trình công nghệ ©Ìchính sách các hoạt động nhằm thỏa mãn được những nguyên lý kinh: ib x Hội ya môi trường sinh thái. Có thể nói, quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền img là phương thức quản lý được xã hội chấp nhận, có cơ sở về mặt khoa học, có tính khả thi về mặt kỹ thuật và hiệu quả về mặt kinh tế. Để ngăn chặn tình trạng mat rừng, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, tiến hành nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng, trong đó có chiến lược bảo tồn quốc tế (1980 và điều chỉnh năm 1991), Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO năm 1983), Chương trính hành động rừng nhiệt đới (TFAP năm 1985), Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển (UNECED năm 1992), Công ước về buôn bán các loài động thực vật quý hiếm (CITIES), Công ước về đa dạng sinh học (CBD, năm 1992), Công ước về thay đổi khí hậu toàn cầu (CGCC; năm 1994), công ước về chống sa mạc hóa (CCD, năm 1996), Hiệp đu, quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, năm 1997),vv. Những năm gần đây, nhiều hội nghị, hội thảo.
` quốc tế và quốc gia về QLRBV đã liên tục được tổ thức, Hiện nay trên thế giới đã có các bộ tiều chuẩn quản lý rừng bền vững cấp quốc gia (Canada, Thụy Điển, Malaysia, Indonesia,.) cà cấp quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trìnhMontreal, vy.) Hội đồng quản trị rừng (FSC) va tổ chức gỗ nhiệt đới đã có bộ tiêu chuẩn “những tiêu chí và chỉ báo quản lý rừng” (P&C) đã được công nhận va ap dung ở nhiều nước trên thế giới, các tổ chức cấp chứng chỉ đều dùng bộ Tu chí nay đẻ đánh giá tình trạng quan lý rừng và cấp xét chứng chỉ QLRBV cho các. Tháng 9 năm 1998, các nước trong khu vực Đông Nam Á đã tổ chức hội nghị lần thứ 18 tại Hà Nộ thỏa thuận về đè nghị của Malaysia xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số về QUBVR ở vùng ASEAN (C&1 ASEAN), thực chất C&1 của ASEAN Ging gi iéng > C&I của ITTO, bao gồm 7 tiêu chí và cũng chia làm hai cấp quản lý là cá quốc gia và cấp đơn vị quản lý. Từ ngàý Ù7 đến 10/09/2004 trên 70 chuyên quốc gia quốc tế gặp nhau tại trụ sở của Liên. Quốc để cân nhắc về các lựa chọn liên quan đến việc quản lý rừng trên toàni thế giới trong tương lai.
Đến nay, các quốc gia đã đưa ra hàng loạt các biện pháp mang tính quốc tế để bảo vệ rừng trong tương lai như việc tăng cường và cải thiện hệ thống luật pháp quốc tế, phát triển một hiệp ước quốc tế mang tính bắt buộc liên quan đến việc quản lý hoặc xây dựng các biện pháp cụ thể hoes các thỏa ước về rừng trên cơ sở những hiệp ước quốc tế đang tồn tại. QLRBV ở Việt Nam. Có thể nói trên 20 năm qua, quan điểm và nhận thức về ngành lâm nghiệp đã có nhiều chuyển biến mang tính cơ bản. Trước hết, đó là sự thay đổi nhận thức từ chủ trương phát triển sản xuất lâm nghiệp dựa vào quốc doanh là chính sang phát triển lâm nghiệp dựa trên cơ sở xã hội hoá ngày càng cao, trong đó nhân dân là lực lượng chủ yếu.
Đây là bước tiến quan trọng về quan điểm, nhận thức và thừa nhận vai trò của tất cả các thành phần kinh tế trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng," .`>- Chủ trương xã hội hóa nghề rừng đã được thẻ chế hóa trong hệ thống pháp luật như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, Luật Đất đai 2003, Luật Bảo vệ môi trường 2005 và đã góp phần tích cực nâng cao hiệu quả quản lý rừng. Chương trình phát triển và quản lý rừng bền vững trong Chiến lược lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006-2020 được coi là một chương trình trọng tâm với các mục tiêu cụ thể,trong đó có mục tiêu quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững-16,24 tu ha đất có rừng (8,4 triệu ha rừng sản xuất, 5,68 triệu harừng phông hộ và 2,16 triệu ha rừng đặc dụng), sản lượng gỗ khai thác trong nước đạt 20-24 triệu m3/năm - đáp ứng về cơ bản nhu cầu nguyên liệu cho. công nghiệp chế biến lâm sản, với 30% diện tích rừng sản xuất được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững vào năm 2020. Hợp tác quốc tế được đả mạnh.