phần mở đầu đang trình bày còn có phần kết luận, các danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục sau chương 3. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về văn hóa Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử.bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh. Trong cuộc sống hằng ngày văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh…Một cách hiểu thông thường khác văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận… Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa được hiểu là bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong đời sống của con người.
Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất. Ta cũng có thể xem văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến t n ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Hoặc theo tác giả Trần Ngọc Thêm (2004) thì văn hóa là một hệ thống của các giá trị do con người sáng tạo và t ch lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đ ch của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo, phát minh đó tức là văn hóa". LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn (Nguyễn Ngọc Quyển, 2004). Khái niệm văn hóa được dùng theo nhiều nghĩa, các nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận khác nhau dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm văn hóa. Ở phương Tây, văn hóa (trong tiếng Anh là culture) xuất xứ từ chữ cultus trong tiếng Latinh.
Nó có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lương thực. Sau này từ này được dùng trong lĩnh vực xã hội nhiều hơn và có nghĩa là sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người. Văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống hay văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào. Ở phương Đông, văn hoá là một từ gốc Hán- Việt, chữ "văn" trong từ văn hóa theo tiếng Hán cổ điển nghĩa là vẻ đẹp của nhân t nh.
"Văn" là vẻ đẹp nhân t nh, cái đẹp của tri thức, trí tuệ của con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền. "Hóa" là đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hóa, giáo dục, và hiện thực hóa trong thực tiễn và đời sống. Như vậy, văn hóa là sự giao hóa, vun trồng nhân cách con người, làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Ở mức chung nhất, có thể phân biệt hai cách hiểu: văn hoá theo nghĩa hẹp và văn hoá theo nghĩa rộng.
Hiểu theo nghĩa hẹp: Văn hóa được giới hạn theo chiều sâu, được hiểu là những giá trị mang tính tinh thần bao gồm: nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật… hoặc văn hóa được giới hạn theo bề rộng, để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực văn hóa: văn hóa ẩm thực, văn hóa kinh doanh…hay giới hạn theo thời gian, không gian văn hóa được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng như văn hóa Nam bộ, văn hóa Đông Sơn…Nhìn chung xét theo nghĩa hẹp văn hóa thường được đồng nhất với văn hóa tinh hoa, văn hóa ứng xử, văn hóa được hiểu là cách sống, cách suy nghĩ và cách đối xử với người xung quanh, văn hóa là sự giao hóa, vun trồng nhân cách con người, làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Hiểu theo nghĩa rộng: "Văn hóa được xem là tất cả các giá trị vật chất do con người sáng tạo ra nghĩa là văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người được biểu hiện, được kết tinh trong các của cải vật chất do con người tạo ra như sản phẩm hàng hóa, công cụ lao động, tư liệu tiêu dùng, cơ sở hạ tầng kinh tế như giao thông, thông tin, nguồn năng lượng; cơ sở hạ tầng như chăm sóc sức khỏe, nhà ở, hệ thống giáo dục.Văn hóa được xem là tất cả các giá trị tinh thần do con người sáng tạo có nghĩa là văn hóa bao gồm các sản phẩm tinh thần mà các cá nhân hay cộng đồng sáng tạo ra trong lịch sử. Văn hóa là toàn bộ những hoạt động tinh thần của con người và xã hội bao gồm kiến thức, các phong tục, tập quán; thói quen và cách ứng xử, ngôn ngữ; các giá trị và thái độ; các hoạt động văn học nghệ thuật; tôn giáo; giáo dục; các phương tiện giao tiếp, cách tổ chức xã hội" (Dương Thị Liễu và cộng sự, 2013, trang 11, 12). Mặc dù văn hóa là một khái niệm hết sức phong phú và phức tạp, ta vẫn có thể thấy ở văn hóa có bốn đặc trưng cơ bản là t nh hệ thống, t nh giá trị, t nh nhân sinh, và t nh lịch sử.
Bốn đặc trưng này ch nh là cơ sở cho phép nhận diện “chất văn hoá” ở một đối tượng nghiên cứu. Trên cơ sở bốn đặc trưng này có thể định nghĩa văn hóa như sau: "Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra trong quá trình lịch sử" (Dương Thị Liễu và cộng sự, 2013, trang 11). Khái nhiệm về văn hóa doanh nghiệp Trong một xã hội rộng lớn, mỗi doanh nghiệp được coi là một xã hội thu nhỏ. Xã hội lớn có nền văn hoá lớn, xã hội nhỏ (doanh nghiệp) cũng cần xây dựng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cho mình một nền văn hoá riêng biệt.
Nền văn hoá ấy chịu ảnh hưởng và đồng thời cũng là một bộ phận cấu thành nền văn hoá lớn. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp trở nên phổ biến từ những thập niên 80. Có khái niệm cho rằng văn hóa doanh nghiệp được xem như là quy luật quan sát hành vi trong mối quan hệ tương tác của con người trong tổ chức, giữ vị tr ưu thế trong tổ chức (Deal và Kennedy, 1982), một số quan niệm khác nhận định văn hoá doanh nghiệp gắn với văn hoá xã hội, là một bước tiến của văn hoá xã hội, là tầng sâu của văn hoá xã hội. Văn hoá doanh nghiệp đòi hỏi vừa chú ý tới năng suất và hiệu quả sản xuất, vừa chú ý quan hệ chủ thợ, quan hệ giữa người với người.
Nói rộng ra nếu toàn bộ nền sản xuất đều được xây dựng trên một nền văn hoá doanh nghiệp có trình độ cao, nền sản xuất sẽ vừa mang bản sắc dân tộc, vừa thích ứng với thời đại hiện nay (Schein, 2004). Vào đầu những năm 70, sau sự thành công rực rỡ của các công ty Nhật Bản, các công ty Mỹ chú ý tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thành công đó. Cụm từ Corporate culture (văn hoá doanh nghiệp) đã được các chuyên gia nghiên cứu về tổ chức và các nhà quản lý sử dụng để chỉ một trong những tác nhân chủ yếu dẫn tới sự thành công của các công ty Nhật trên khắp thế giới. Các nghiên cứu đã khám phá và nhấn mạnh rằng văn hóa doanh nghiệp được xem như một quy trình phát triển và năng động chứ không đứng yên, văn hóa phải được hiểu như là hiện tượng sống, năng động thông qua sự sáng tạo của con người và tái tạo thế giới của họ.
Schein (1996) tuyên bố rằng văn hóa doanh nghiệp thay đổi qua thời gian và trở nên gắn bó thành các chức năng ngoài sự nhận thức của doanh nghiệp. Theo ông Saite Marie (1996), chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa ra định nghĩa văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp. Dưới giác độ quản lý, các nhà kinh tế Hoa Kỳ cho rằng văn hóa doanh nghiệp có thể hiểu là “tập hợp tất cả các giá trị, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 chuẩn mực, hành vi được các thành viên trong doanh nghiệp cùng làm theo và nó đại diện cho các thành viên trong doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp đó khác với doanh nghiệp khác. Hay nói một cách cụ thể hơn thì văn hóa doanh nghiệp là các quy tắc, tiêu chuẩn, nội quy quy định về hành vi của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp đối xử với nhau trong công việc cũng như những hành vi đối xử với khách hàng và những người cung ứng bên ngoài doanh nghiệp” (Đỗ Thị Phi Hoài và cộng sự, 2009).
Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế: “Văn hoá Doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” (Dương Thị Liễu và cộng sự, 2013, trang 12).