Tổng quan nghiên cứu

Rừng phòng hộ đóng vai trò như lá phổi xanh và tấm lá chắn sinh thái bảo vệ nguồn nước, điều hòa khí hậu và hạn chế tai biến thiên nhiên tại các vùng đồi núi dốc. Huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên sở hữu vị trí chiến lược xung yếu với diện tích tự nhiên đạt 119.942,09 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 107.171,73 ha (tương đương 89,47% diện tích toàn huyện). Tuy nhiên, địa hình khu vực bị chia cắt sâu sắc với độ cao dao động từ 300 m đến 2.183,4 m và lượng mưa mùa mưa chiếm tới 86% tổng lượng mưa cả năm (đạt mức cực đại 2.200 mm), dẫn đến nguy cơ xói mòn đất, lũ quét và sạt lở nghiêm trọng lưu vực sông Nậm Mức và sông Đà.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng diện tích đất chưa có rừng còn rất lớn (chiếm 53,88% diện tích tự nhiên) và độ che phủ rừng toàn huyện chỉ dừng lại ở mức 35,59%. Trong khi đó, diện tích rừng phòng hộ quy hoạch lên tới 49.039,04 ha nhưng chất lượng lâm phần phần lớn là rừng nghèo kiệt và phục hồi sau nương rẫy, năng lực phòng hộ đầu nguồn suy giảm.

Mục tiêu của luận văn là đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng, phân tích các chỉ tiêu cấu trúc lâm phần đặc trưng và đánh giá công tác tổ chức quản lý, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật lâm sinh và chính sách quản lý rừng phòng hộ bền vững. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn 12 xã, thị trấn thuộc huyện Mường Chà trong giai đoạn 2019-2020. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tạo lập cơ sở khoa học để phục hồi hơn 64.000 ha đất trống đồi núi trọc, nâng cao khả năng điều tiết nguồn nước mặt có lưu lượng trung bình 122 m3/s và cải thiện sinh kế cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Quản lý rừng bền vững (Sustainable Forest Management - SFM) theo định hướng của Hội nghị Thượng đỉnh Rio 1992 và bộ tiêu chuẩn quản lý rừng của khối ASEAN, xem xét tài nguyên rừng trên cả ba trụ cột: sinh thái môi trường, kinh tế lâm nghiệp và an sinh xã hội. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết sinh thái học quần xã thực vật của Daniel Marmillod và Thái Văn Trừng về cấu trúc tầng tán, quy luật tổ thành và chỉ số giá trị quan trọng (Important Value Index - IV%) để xác định các loài cây ưu thế sinh thái.

Về mặt thể chế, đề tài bám sát các khái niệm chuyên ngành và khung pháp lý theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 cùng Nghị định số 156/2018/NĐ-CP, tập trung vào 4 khái niệm then chốt: rừng phòng hộ đầu nguồn, phân cấp mức độ xung yếu (rất xung yếu và xung yếu), độ tàn che của tán rừng và khả năng duy trì dòng chảy kiệt trong mùa khô.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ các bản đồ quy hoạch 3 loại rừng theo Quyết định số 76/QĐ-UBND của UBND tỉnh Điện Biên, báo cáo kiểm kê rừng theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT và số liệu thống kê khí tượng thủy văn huyện Mường Chà.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả thiết lập cỡ mẫu gồm 48 ô tiêu chuẩn (OTC) với diện tích 1.000 m2/ô (tổng diện tích điều tra thực địa đạt 4,8 ha). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đại diện tại 12 xã và thị trấn, trong đó mỗi xã lập 2 OTC tương ứng với hai cấp phòng hộ rất xung yếu và xung yếu. Trong mỗi OTC, tiến hành đo đếm toàn bộ cây gỗ có đường kính ngang ngực D1.3 ≥ 6 cm, đo chiều cao vút ngọn (HVN) cho 10 cây ngẫu nhiên bằng thước Blumleiss và chia 100 phân ô nhỏ (100 m2/phân ô) để xác định độ tàn che bằng phần mềm ứng dụng di động GLAMA (Gap Light Analysis Mobile App). Phương pháp phân tích sinh trắc rừng dựa trên công thức tính thể tích thân cây đứng của Giáo sư Vũ Tiến Hinh, phân tích quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính N/D1.3 (cự ly 4 cm) và cỡ chiều cao N/HVN (cự ly 2 m).

Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đảm bảo tính đại diện thống kê cao cho địa hình phức tạp, phản ánh chính xác cấu trúc sinh học lâm phần và giảm thiểu sai số đo đạc tán rừng. Ngoài ra, phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân (PRA) và ma trận SWOT được thực hiện thông qua phỏng vấn chuyên sâu 30 cán bộ quản lý, kỹ sư lâm nghiệp và chuyên gia sinh thái trên địa bàn trong suốt timeline nghiên cứu 2019-2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện Mường Chà là 107.171,73 ha, nhưng diện tích đất có rừng thực tế chỉ đạt 42.688,49 ha (rừng tự nhiên chiếm 39.893,92 ha và rừng trồng chiếm 2.794,57 ha). Đáng chú ý, diện tích đất chưa có rừng lên tới 64.626,81 ha (chiếm 53,88% tổng diện tích tự nhiên), trong đó trảng cỏ nương rẫy (trạng thái IA) chiếm áp đảo với 36.170,02 ha (tương đương 30,63% diện tích tự nhiên).

Thứ hai, rừng phòng hộ phân bố không đều tại 12 xã với tổng diện tích 49.039,04 ha, tập trung mật độ cao nhất tại xã Mường Tùng (3.946,70 ha), Hừa Ngài (1.100,58 ha) và Ma Thì Hồ (1.008,47 ha), trong khi 7 xã còn lại có quy mô dưới 1.000 ha. Độ che phủ rừng giữa các địa phương có sự phân hóa mạnh mẽ, dao động từ mức thấp 23,8% tại thị trấn Mường Chà đến 46,3% tại các xã vùng sâu.

Thứ ba, cấu trúc lâm phần qua khảo sát 48 OTC cho thấy chất lượng rừng tự nhiên chủ yếu thuộc trạng thái IIA và IIIA1 với trữ lượng nghèo và nghèo kiệt (dưới 50 đến 100 m3/ha). Cấu trúc tổ thành tầng cây cao theo chỉ số IV% phản ánh rõ vai trò của các loài tiên phong bản địa, tuy nhiên độ đồng đều của quần xã chưa cao và độ tàn che trung bình còn thấp, dao động trong khoảng từ 0,35 đến 0,55.

Thứ tư, công tác quản lý còn nhiều chồng chéo và áp lực lớn về nhân lực. Ủy ban nhân dân cấp xã hiện đang phải quản lý tạm thời tới 62.249,17 ha rừng tự nhiên và 59.158,99 ha đất chưa có rừng, trong khi Ban quản lý rừng phòng hộ chuyên trách chỉ trực tiếp quản lý 5.433,63 ha rừng tự nhiên. Dân số huyện đạt khoảng 39.000 người với 90,6% lực lượng lao động làm nông lâm nghiệp, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chỉ đạt 9%.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm chất lượng rừng phòng hộ tại Mường Chà xuất phát từ áp lực sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số (người H'Mông chiếm 59,8%, người Thái chiếm 23,5%) phụ thuộc vào tập quán phát dọn nương rẫy trên đất dốc. Mùa khô kéo dài kèm theo gió Tây Nam khô nóng làm gia tăng nguy cơ cháy rừng, trong khi địa hình chia cắt mạnh cản trở hoạt động tuần tra của lực lượng kiểm lâm vốn có biên chế rất mỏng.

So sánh với các nghiên cứu sinh thái đầu nguồn tại vùng Tây Bắc, diễn thế phục hồi của rừng Mường Chà đang ở giai đoạn rừng non phục hồi sau nương rẫy, rất nhạy cảm với các tác động chặt phá và chăn thả gia súc tự do. Nếu không có biện pháp can thiệp kỹ thuật kịp thời, tầng đất mặt vốn chỉ dày dưới 30 cm tại các sườn núi dốc trên 35 độ sẽ bị rửa trôi hoàn toàn dưới tác động của những trận mưa lớn tập trung.

Dữ liệu nghiên cứu này có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ phân bố giảm dạng hàm mũ hoặc đường cong Weibull cho phân bố số cây theo cỡ đường kính N/D1.3, biểu đồ thanh so sánh tỷ lệ che phủ rừng giữa 12 đơn vị hành chính xã, cùng bảng ma trận phân tích SWOT phản ánh toàn diện các điểm nghẽn về thể chế và sinh kế địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch và đẩy nhanh tiến độ giao đất giao rừng. Tiến hành rà soát và chuyển giao toàn bộ 59.158,99 ha đất lâm nghiệp chưa có rừng hiện do UBND xã quản lý tạm thời sang cho các cộng đồng thôn bản và hộ gia đình nhận khoán lâu dài. Thiết lập mục tiêu đạt 100% diện tích đất lâm nghiệp có chủ quản lý thực sự trong giai đoạn 2021-2025, dưới sự chủ trì của UBND huyện Mường Chà phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Điện Biên.

Thứ hai, áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng đầu nguồn. Triển khai khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung trên diện tích 20.000 ha đất trạng thái IC và IB, ưu tiên sử dụng các loài cây bản địa có bộ rễ sâu và khả năng giữ đất tốt như Pơ mu, Lát hoa, Sa mộc, Re và Mỡ. Target metric là nâng độ tàn che trung bình từ 0,4 lên trên 0,65 và giảm 50% diện tích xói mòn đất dốc đến năm 2030, do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Mường Chà trực tiếp chỉ đạo kỹ thuật.

Thứ ba, đa dạng hóa chuỗi sinh kế và tối ưu hóa chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Mở rộng mô hình trồng cây dược liệu và lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng như sa nhân tím, cánh kiến đỏ tại các vùng núi cao từ 700 m đến 1.700 m. Nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng thuộc lưu vực sông Đà và sông Nậm Mức cần được chi trả minh bạch, hướng đến mục tiêu nâng thu nhập từ nghề rừng của 90,6% lao động địa phương thêm 25% trong giai đoạn 2021-2025.

Thứ tư, nâng cao năng lực tổ chức và ứng dụng công nghệ giám sát tài nguyên rừng. Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật lâm sinh cho tổ quản lý bảo vệ rừng thôn bản, nâng tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo từ 9% lên 25% trước năm 2025. Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS), ảnh viễn thám và thiết bị bay không người lái để cập nhật diễn biến rừng định kỳ hàng quý, do Hạt Kiểm lâm Mường Chà phối hợp với các viện nghiên cứu lâm nghiệp thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý rừng phòng hộ tại Điện Biên và các tỉnh Tây Bắc. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát quy hoạch 3 loại rừng, xây dựng phương án giao đất lâm nghiệp và hoàn thiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn hơn 104.000 ha đất quy hoạch lâm nghiệp.

Nhóm 2: Các chuyên gia, nhà khoa học và giảng viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng. Công trình mang lại bộ dữ liệu thực nghiệm giá trị về cấu trúc lâm phần qua 48 ô tiêu chuẩn, chỉ số độ quan trọng IV% và quy luật sinh trắc rừng vùng đồi núi cao, phục vụ cho các nghiên cứu chuyên sâu về sinh thái học phục hồi.

Nhóm 3: Học viên cao học và sinh viên các trường đại học khối nông lâm nghiệp. Tài liệu là một hình mẫu chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu thực địa, từ kỹ thuật lập ô tiêu chuẩn 1.000 m2, đo đạc độ tàn che bằng phần mềm GLAMA đến kỹ năng phân tích ma trận SWOT trong lâm nghiệp xã hội.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và đơn vị phát triển dự án biến đổi khí hậu, REDD+. Luận văn cung cấp số liệu hiện trạng chi tiết về 64.626,81 ha đất trống đồi núi trọc và đặc điểm nhân khẩu học 12 xã, giúp thiết kế các chương trình tài trợ trồng rừng đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế cộng đồng bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu cốt lõi của luận văn thạc sĩ lâm nghiệp này là gì? Luận văn tập trung đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên rừng, phân tích đặc điểm cấu trúc lâm phần qua 48 ô tiêu chuẩn và khảo sát năng lực quản lý nhà nước, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật lâm sinh và cơ chế chính sách nhằm phát triển bền vững 49.039,04 ha rừng phòng hộ đầu nguồn tại huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.

Thực trạng phân bố đất rừng tại huyện Mường Chà có điểm gì đáng lưu ý? Tổng diện tích đất lâm nghiệp đạt 107.171,73 ha (chiếm 89,47% diện tích tự nhiên), nhưng độ che phủ rừng chỉ đạt 35,59%. Quỹ đất chưa có rừng còn rất lớn với 64.626,81 ha (chiếm 53,88% diện tích toàn huyện), chủ yếu là trảng cỏ và nương rẫy thoái hóa, đặt ra thách thức cấp bách cho công tác phủ xanh đất trống đồi núi trọc.

Tác giả sử dụng phương pháp nào để xác định cấu trúc tầng cây cao của rừng? Nghiên cứu thiết lập 48 ô tiêu chuẩn diện tích 1.000 m2 ngẫu nhiên tại 12 xã, đo đếm các chỉ tiêu đường kính D1.3 và chiều cao HVN. Cấu trúc tổ thành được xác định thông qua chỉ số độ quan trọng IV% của Daniel Marmillod (chọn loài có IV% > 5%), kết hợp đo độ tàn che bằng ứng dụng di động GLAMA và mô hình hóa phân bố N/D1.3, N/HVN.

Những khó khăn lớn nhất trong công tác bảo vệ rừng phòng hộ Mường Chà là gì? Khó khăn bao gồm địa hình núi cao hiểm trở chia cắt mạnh, 90,6% lao động làm nông lâm nghiệp nhưng chỉ có 9% qua đào tạo, tập quán canh tác nương rẫy du canh còn phổ biến. Đồng thời, UBND cấp xã đang phải gánh trách nhiệm quản lý tới 62.249,17 ha rừng tự nhiên trong điều kiện lực lượng kiểm lâm mỏng và thiếu hụt trang thiết bị.

Luận văn đề xuất những giải pháp kỹ thuật lâm sinh trọng tâm nào? Tác giả đề xuất đẩy mạnh khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung 20.000 ha rừng trạng thái IC và IB bằng cây bản địa rễ sâu như Pơ mu, Lát hoa, Sa mộc. Đồng thời, kết hợp phát triển cây dược liệu dưới tán rừng và nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ viễn thám trong giám sát biến động rừng.

Kết luận

  • Rừng phòng hộ đầu nguồn tại huyện Mường Chà giữ vị trí địa chính trị và sinh thái sống còn đối với an toàn nguồn nước sông Đà và sông Nậm Mức.
  • Hiện trạng đất lâm nghiệp chiếm 89,47% nhưng độ che phủ chỉ đạt 35,59% và còn tới 64.626,81 ha đất trống đồi trọc cần được phục hồi khẩn cấp.
  • Kết quả khảo sát 48 ô tiêu chuẩn đã xác định rõ đặc điểm cấu trúc lâm phần nghèo kiệt, cung cấp căn cứ vững chắc cho các tác động lâm sinh làm giàu rừng.
  • Tháo gỡ nút thắt thể chế bằng việc chuyển giao 59.158,99 ha đất do xã quản lý sang cho cộng đồng nhận khoán gắn với nguồn thu dịch vụ môi trường rừng.
  • Thực thi đồng bộ giải pháp kỹ thuật bản địa hóa và công nghệ GIS nhằm nâng độ tàn che lên trên 0,65 trong giai đoạn 2021-2030.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu thực nghiệm sinh trắc rừng và xây dựng khung giải pháp liên ngành kết hợp lâm sinh với sinh kế cho một địa bàn miền núi đặc thù. Trong giai đoạn 2021-2025, các cấp chính quyền địa phương cần nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất này vào kế hoạch hành động lâm nghiệp cấp huyện. Độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách hãy tham khảo toàn văn công trình để áp dụng hiệu quả vào công tác quản trị và phát triển bền vững tài nguyên rừng vùng Tây Bắc.