phần mở đầu và kết luận) ‘ Phần thứ nhất: Cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn và vai trò của thương mại, thị trường với việc chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn. Phần thứ hai: Thực trạng tác động của thương mại, thị trường trong việc chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn. Phân thứ ba: Các giải pháp phát triển thương mại, thị trường nhằm góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn. Phần thứ nhất CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI THỊ TRƯỜNG VỚI VIỆC CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN I.
Một số vấn đề về chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn L1. Khái niệm và vai trò của lao động nông nghiệp, nông thôn trong phát triển kinh tế-xã hội Để phát triển kinh tế- xã hội, mỗi quốc gia đều phải huy động mọi nguồn lực sẵn có như nguồn lực vật chất (tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản.), nguồn lực tài chính và nguồn lực con người; Trong đó, nguồn lực con người đóng vai trò quan trọng nhất và mang tính quyết định cho quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Theo khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp. Nói một cách khác, lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc.
Ở nước ta, nguồn lao động được sử dụng trong điều tra mẫu quốc gia về lao động - việc làm hàng năm của công tác thu thập, tổng hợp thông tin thống kê về thị trường lao động ở Việt Nam từ 1996 đến nay gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không có việc làm hoặc đang đi học, làm nội trợ cho gia đình hoặc chưa có nhu cầu làm việc.Bộ luật lao động của nước ta đã quy định giới hạn dưới của tuổi lao động là tròn 15 tuổi và giới hạn trên là 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam. Vì lao động là yếu tố của sản xuất - xã hội nên chúng ta có thể sử dụng khái niệm nguồn lực lao động là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội để thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nguồn lực lao động tham gia vào hoạt động kinh tế là số người có việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế, trong các lĩnh vực của hoạt động xã hội. Nguồn lực lao động tham gia vào hoạt động kinh tế khác với nguồn lực lao động có sẵn trong dân số vì có một bộ phận những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì nhiều nguyên nhân khác nhau chưa tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội.
Nguồn lực lao động trong nông nghiệp, nông thôn bao gồm toàn bộ dân cư trong độ tuổi lao động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc. Nguồn lực lao động nông nghiệp, nông thôn được đánh giá theo quy mô và chất lượng. Quy mô nguồn lực lao động nông nghiệp, nông thôn phụ thuộc vào quy mô đân số, tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ những người trong độ tuổi lao động của khu vực nông nghiệp, nông thôn và có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế xã hội của khu vực nông nghiệp, nông thôn và cả nước. Quy mô lao động nông nghiệp, nông thôn bao gồm phần lớn số lao động có việc làm thường xuyên, một phần lao động không có việc làm thường xuyên và số lao động không có việc làm (lao động chưa muốn làm việc và lao động thất nghiệp).
Chất lượng nguồn lực lao động nông nghiệp, nông thôn được đánh giá thông qua các chỉ số phát triển con người (HDD), tình trạng sức khoẻ, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của người lao động. Phát triển nguồn lực lao động nông nghiệp, nông thôn về quy mô phải căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của khu vực nông nghiệp, nông thôn để có chính sách ổn định dân số vẻ lao động bằng các biện pháp kế hoạch hoá sự gia tăng dân số tự nhiên và cơ học. Phát triển nguồn lực lao động về chất lượng thực chất là kế hoạch hoá việc phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật cho người lao động; đồng thời bảo đảm chăm sóc sức khoẻ, tạo môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi để mở rộng sản xuất, tạo việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tỉnh thân cho người lao động. Trên cơ sở khái niệm trên chúng ta có thể hiểu nguồn lực lao động nông nghiệp, nông thôn theo sơ đồ sau: Mô hình tổng quát nguồn lực lao động nông nghiệp, nông thôn NGUỒN LỰC LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Lao động CỐ VIỆC làm thường xuyên [SS Lao động có việc làm Lao động không có việc làm ae ey Lao Lao Lao déng động động không chưa thất CÓ VIỆC và nghiệp làm không thường muốn xuyên làm Trình Trình Tình Chỉ số độ học độ trạng phát vấn chuyên sức triển môn khoẻ con người Phát triển nguồn lực lao động có vai trò hết sức quan trọng để tăng trưởng và phát triển một cách bền vững.
Đó vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (CNH, HĐH). Phát triển nguồn lực lao động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa to lớn đối với việc đổi mới nông nghiệp, nông thôn, đồng thời còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đổi mới kinh tế xã hội của đất nước vì nông thôn có vai trò, vị trí hàng đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta. Phát triển nguồn lực lao động nông nghiệp, nông thôn phải được tiến hành trên cả hai mặt quy mô và chất lượng lao động. Trong chiến lược CNH, HĐH đất nước, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và van minh, Dang và Nhà nước ta rất coi trọng đến nguồn lực lao động và đặt nhiệm vụ này vào vị trí quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Để xác định vị trí và vai trò của nguồn lực lao động trong phát triển kinh tế xã hội, Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã khẳng định:" Để thực hiện mục tiêu chiến lược ma Dai hoi VII da đề ra, cần khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp."; Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng ta cũng xác định phải đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm và giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc: Tạo nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn. Hiện nay nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã tạo ra cơ hội lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời cũng đặt trước những thách thức không nhỏ. Cơ chế thị trường cùng với xu thế hội nhập đã tạo ra động lực trong cạnh tranh, chúng ta phải nâng cao sức cạnh tranh trên cơ sở tạo dựng những lợi thế so sánh của mình; trong đó phải không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, nâng cao hàm lượng lao động có kỹ thuật, trí tuệ để tiếp thu những công nghệ tiên tiến, sử dụng các trang thiết bị hiện đại, sản xuất ra hàng hoá ngày càng có chất lượng, chi phí rẻ, có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế. Với mục tiêu của sự nghiệp CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì vai trò của phát triển nguồn nhân lực càng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng trên cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trong thời gian qua lực lượng lao động cả nước cũng như lao động nông nghiệp, nông thôn đã tham gia tích cực và có hiệu quả vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. ˆ Sự tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã tác động mạnh đến phát triển nguồn lực lao động của cả nước cũng như chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn. Nền kinh tế nước ta sau 15 nam đổi mới và chuyển đổi đã có những thay đổi cơ bản về các quan hệ kinh tế - xã hội và lực lượng sản xuất. Mặc dù phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn, nhưng nhờ thực hiện tốt các chính sách và giải pháp phù hợp, phát huy nội lực kết hợp với sự hội nhập quốc tế có hiệu quả nên vẫn tiếp tục xu thế phát triển khá.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 10 năm (giai đoạn 1990 - 2000) là 7,3%, thu nhập bình quân đầu người tăng 1,8 lần; tích luỹ vốn tăng lên đáng kể, tổng: tích luỹ so với GDP tăng từ 14,4% năm 1990 lên 29% vào năm 2000. Tỷ trọng xuất khẩu/ GDP trong giai đoạn vừa qua cho thấy xu thế mở cửa của nền kinh tế nước ta: từ 25,5% (1991) lên 34,8% (2000). Kết quả này là do thực hiện một loạt các cơ chế, chính sách đổi mới sâu rộng, tạo điều kiện huy động các nguồn lực trong nước cũng như của cộng đồng quốc tế để phát triển. Do tốc độ tăng trưởng cao hơn tăng trưởng chung nền kinh tế nên tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP đã tăng liên tục, tương ứng từ 22/7% (năm 1990) lên khoảng 37,8% (năm 2001) và 38,3% (năm 2002).
Nông nghiệp tăng khá về giá trị tuyệt đối, nhưng tỷ trọng GDP giảm từ 38,6% (năm 1990) xuống còn 23,62% (năm 2001) và 23,6% (năm 2002).