Tổng quan nghiên cứu

Thị trường cho thuê tài chính tại Việt Nam giữ vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế có 291.148 doanh nghiệp đang hoạt động tính đến cuối năm 2013, trong đó nhóm doanh nghiệp quy mô vốn dưới 50 tỷ đồng chiếm tới 94,24%. Thực trạng công nghệ sản xuất trong nước còn nhiều hạn chế khi 80% đến 90% thiết bị phụ thuộc vào nhập khẩu, 75% dây chuyền máy móc thuộc thế hệ thập niên 1980 - 1990 với hơn 50% là hàng tân trang, khiến năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam chỉ xếp thứ 70 trên tổng số 148 nền kinh tế theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2013. Mặc dù nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị và phụ tùng năm 2013 đạt 18,68 tỷ USD (chiếm 14,1% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước), thị trường cho thuê tài chính vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng khi dư nợ toàn ngành chỉ đạt 19.001 tỷ đồng, chiếm chưa đầy 1% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế (khoảng 3 triệu tỷ đồng).

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là phân tích sự suy giảm quy mô và chất lượng hoạt động của hệ thống công ty cho thuê tài chính, từ đó làm rõ các rào cản từ phía cung, phía cầu và khung pháp lý vĩ mô. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc đánh giá toàn diện thực trạng giai đoạn 1999 - 2013, khảo sát hành vi tiếp cận vốn của doanh nghiệp tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tái cấu trúc thị trường. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ hệ sinh thái cho thuê tài chính Việt Nam với trọng tâm là địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh – nơi đóng góp 22,5% GDP cả nước và tập trung 11 trên tổng số 12 công ty cho thuê tài chính được cấp phép. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế tài chính phi ngân hàng, thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đồng thời tái lập tỷ lệ nợ xấu toàn ngành về ngưỡng an toàn dưới 3%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng Lý thuyết trung gian tài chính và Lý thuyết cấu trúc vốn của Franco Modigliani và Merton Miller, giải thích cơ chế tài trợ vốn trung dài hạn giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn và duy trì hệ số đòn bẩy tài chính hợp lý. Bên cạnh đó, Lý thuyết cung - cầu thị trường của Gregory Mankiw được vận dụng để phân tích sự tương tác giữa bên cung ứng vốn và bên sử dụng tài sản trong một thị trường tài chính chuyên biệt.

Các khái niệm học thuật cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu:

  • Cho thuê tài chính: Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 06 và Tiêu chuẩn kế toán Mỹ FAS 13, đây là giao dịch tín dụng trung và dài hạn mà bên cho thuê chuyển giao phần lớn rủi ro cùng lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê, trong đó thời hạn thuê thường chiếm trên 75% đời sống kinh tế của tài sản hoặc giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê đạt từ 90% giá trị hợp lý của tài sản.
  • Cho thuê vận hành: Hình thức thuê tài sản ngắn hạn phục vụ nhu cầu sử dụng tạm thời, bên cho thuê chịu trách nhiệm bảo trì, khấu hao và chịu mọi rủi ro về sự sụt giảm giá trị tài sản.
  • Bên cho thuê và Bên thuê: Mối quan hệ giữa tổ chức tín dụng phi ngân hàng có chức năng cấp tín dụng bằng hiện vật và tổ chức, cá nhân trực tiếp vận hành tài sản cho mục đích sản xuất kinh doanh.
  • Quyền chọn mua tài sản: Điều khoản cam kết cho phép bên thuê sở hữu hoàn toàn tài sản khi kết thúc hợp đồng với mức giá danh nghĩa tượng trưng từ 0,1% đến 0,5% giá trị ban đầu.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập có hệ thống từ Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam trong chuỗi thời gian 15 năm từ năm 1999 đến hết năm 2013. Dữ liệu sơ cấp được tạo lập thông qua khảo sát thực nghiệm với cỡ mẫu gồm 50 doanh nghiệp đang sử dụng dịch vụ cho thuê tài chính tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, bao gồm 25 doanh nghiệp thuộc khối sản xuất và 25 doanh nghiệp thuộc khối dịch vụ.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cho hai nhóm tài sản thuê chính là máy móc thiết bị công nghiệp và phương tiện vận tải thương mại. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh định lượng và phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình là nhằm đối chiếu thực tiễn hoạt động giữa mô hình công ty tăng trưởng lành mạnh thuộc khối ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân và mô hình công ty suy thoái nghiêm trọng thuộc khối ngân hàng thương mại nhà nước. Timeline nghiên cứu được thực hiện và hoàn thiện dữ liệu tính đến tháng 6 năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng quy mô thị trường cho thuê tài chính có sự đảo chiều rõ rệt. Dư nợ toàn thị trường tăng trưởng từ 300 tỷ đồng năm 1999 lên 15.633 tỷ đồng năm 2010 (tăng hơn 52 lần), đạt đỉnh 19.066 tỷ đồng vào năm 2012 trước khi giảm xuống 19.001 tỷ đồng vào cuối năm 2013. Số lượng khách hàng của 8 công ty trong Hiệp hội Cho thuê tài chính sụt giảm liên tục 47,16%, từ mức đỉnh 3.505 khách hàng năm 2010 xuống còn 1.852 khách hàng vào tháng 12 năm 2013.

Thứ hai, cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế và danh mục tài sản bộc lộ sự tập trung cao độ. Dư nợ khối ngoài quốc doanh đạt 14.477 tỷ đồng, chiếm 93,16% tổng dư nợ thị trường (15.540 tỷ đồng), trong khi khối quốc doanh chỉ chiếm 6,84% (1.063 tỷ đồng). Xét theo tài sản, tàu thuyền các loại chiếm tỷ trọng lớn nhất với 47,83% (7.433 tỷ đồng), tiếp theo là ô tô các loại chiếm 14,69% (2.283 tỷ đồng), máy móc xây dựng - khai khoáng chiếm 13,38% (2.079 tỷ đồng) và dây chuyền sản xuất chiếm 12,40% (1.926 tỷ đồng).

Thứ ba, sự phân hóa chất lượng tín dụng giữa các nhóm công ty diễn ra gay gắt. Tỷ lệ nợ xấu năm 2013 tại các đơn vị khối quốc doanh chạm ngưỡng báo động, cụ thể Công ty ALC II có nợ xấu chiếm 95,95% (nợ nhóm 5 mất vốn chiếm 95,43%), Công ty Cho thuê tài chính Vinashin ghi nhận 98,39% nợ xấu, và ALC I ghi nhận 68,16%. Ngược lại, nhóm công ty cổ phần và liên doanh duy trì kiểm soát nợ xấu ở mức an toàn như Công ty SBL đạt 0,99%, Công ty ACBL đạt 0,04%, và Công ty ICBL đạt 3,00%.

Thứ tư, khảo sát thực tế 50 khách hàng chỉ ra rào cản tiếp cận thị trường. Có 68% doanh nghiệp (34/50 đơn vị) phản ánh chi phí sử dụng vốn qua thuê tài chính cao hơn vay ngân hàng do phải chịu thêm tiền ký quỹ từ 5% đến 10% giá trị tài sản; 64% doanh nghiệp (32/50 đơn vị) nhận định thủ tục pháp lý phức tạp do công ty cho thuê đứng tên sở hữu phương tiện; và 56% doanh nghiệp (28/50 đơn vị) chỉ biết đến dịch vụ qua kênh giới thiệu của ngân hàng mẹ.

Thảo luận kết quả

Sự suy thoái của thị trường xuất phát từ cấu trúc nguồn vốn đầu vào kém đa dạng. Khảo sát cấu trúc vốn của Công ty SBL cho thấy tiền gửi và vay từ các tổ chức tín dụng khác chiếm tới 57,75% tổng tài sản (702,68 tỷ đồng trên 1.216,9 tỷ đồng), khiến biên chi phí vốn bị đẩy lên cao so với hệ thống ngân hàng thương mại. Hạn chế này giải thích nguyên nhân các công ty cho thuê tài chính buộc phải áp mức lãi suất đầu ra cao hơn từ 1,5% đến 3,0% so với tín dụng ngân hàng truyền thống để bù đắp rủi ro không có tài sản thế chấp bổ sung.

So sánh quốc tế cho thấy thị trường Việt Nam đang tụt hậu so với Pháp – nơi tín dụng cho thuê tài chính chiếm tỷ trọng ngang ngửa tín dụng ngân hàng nhờ khung pháp lý phân định rõ ràng giữa thuê tài chính và thuê vận hành; hay mô hình Trung Quốc với hơn 60 công ty cho thuê chuyên biệt, được hưởng chính sách ưu đãi thuế lợi tức 33% (thấp hơn mức 55% thông thường của doanh nghiệp quốc doanh) và cho phép thuê hàng trăm máy bay thương mại phục vụ ngành hàng không.

Dữ liệu chuỗi thời gian về dư nợ và nợ xấu của luận văn được thể hiện tối ưu qua dạng biểu đồ kết hợp (Combo Chart) cột - đường để làm nổi bật độ dốc sụt giảm khách hàng giai đoạn 2010 - 2013, cùng biểu đồ tròn phân bổ tỷ trọng tài sản nhằm chứng minh rủi ro tập trung quá mức vào nhóm phương tiện vận tải đường thủy.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc và đa dạng hóa nguồn vốn hoạt động của các công ty cho thuê tài chính.

  • Hành động: Phát hành trái phiếu doanh nghiệp trung dài hạn và chủ động đàm phán mở rộng hạn mức tài trợ quốc tế từ các định chế tài chính phát triển như FMO (Hà Lan), Norfund (Na Uy) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
  • Target metric: Giảm tỷ trọng phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng mẹ xuống dưới 30% và hạ chi phí vốn đầu vào từ 1,0% đến 1,5%/năm.
  • Timeline: Giai đoạn 2015 - 2017.
  • Chủ thể thực hiện: Ban Tổng Giám đốc và Phòng Nguồn vốn các công ty cho thuê tài chính.

Thứ hai, mở rộng danh mục sản phẩm và triển khai nghiệp vụ cho thuê vận hành.

  • Hành động: Thiết kế gói giải pháp tài chính trọn gói tích hợp dịch vụ bảo trì, tư vấn công nghệ thiết bị, nhập khẩu ủy thác và hỗ trợ quản trị vận hành tài sản cho doanh nghiệp thuê.
  • Target metric: Nâng tỷ trọng dư nợ cho thuê vận hành lên mức 15% - 20% tổng dư nợ toàn ngành.
  • Timeline: Giai đoạn 2015 - 2018.
  • Chủ thể thực hiện: Khối Phát triển sản phẩm thuộc các công ty cho thuê tài chính phối hợp cùng các nhà sản xuất máy móc thiết bị.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình thẩm định tín dụng và xử lý nợ tồn đọng.

  • Hành động: Ban hành khung chấm điểm tín dụng chuyên biệt cho từng loại động sản, áp dụng mức ký quỹ linh hoạt từ 3% đến 5% cho khách hàng có lịch sử tín dụng tốt, và chuyển giao tài sản nợ xấu sang công ty quản lý tài sản xử lý dứt điểm.
  • Target metric: Kiểm soát tỷ lệ nợ xấu toàn ngành xuống dưới mức 3,0% và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ thuê từ 15 ngày xuống còn tối đa 5 ngày làm việc.
  • Timeline: Thực hiện thường niên từ năm 2015.
  • Chủ thể thực hiện: Hội đồng Quản trị, Khối Quản trị rủi ro các công ty cho thuê tài chính.

Thứ tư, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách hỗ trợ phát triển thị trường.

  • Hành động: Sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật nhằm cho phép mở rộng thí điểm cho thuê tài chính đối với bất động sản công nghiệp, tháo gỡ vướng mắc về đăng ký lưu hành phương tiện giao thông, và điều chỉnh chính sách khấu hao nhanh cho tài sản công nghệ cao.
  • Target metric: Nâng tỷ trọng dư nợ cho thuê tài chính đạt mức 3% đến 5% tổng quy mô tín dụng toàn nền kinh tế.
  • Timeline: Giai đoạn 2015 - 2020.
  • Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông Vận tải và Chính phủ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Ban lãnh đạo và chuyên viên nghiệp vụ tại các công ty cho thuê tài chính, ngân hàng thương mại.

  • Lợi ích: Nắm bắt bức tranh toàn cảnh về thị trường, thấu hiểu nguyên nhân gốc rễ dẫn đến nợ xấu tại các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
  • Use case: Ứng dụng mô hình cân đối nguồn vốn của SBL để tái cơ cấu danh mục tài sản cho thuê và tái thiết kế chính sách lãi suất cạnh tranh.

Nhóm 2: Chủ doanh nghiệp, Giám đốc tài chính khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs).

  • Lợi ích: Hiểu rõ cơ chế huy động vốn trung và dài hạn mà không cần tài sản bảo đảm là bất động sản.
  • Use case: Hoạch định phương án thuê tài chính để hiện đại hóa dây chuyền máy móc, chuyển hóa tài sản cố định thành vốn lưu động qua nghiệp vụ bán và thuê lại.

Nhóm 3: Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô.

  • Lợi ích: Tiếp cận cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ công tác rà soát hiệu quả thể chế.
  • Use case: Xây dựng dự thảo thông tư sửa đổi các quy định về trích lập dự phòng rủi ro, hoàn thiện cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm cho tài sản động sản.

Nhóm 4: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng.

  • Lợi ích: Khai thác hệ thống khung lý thuyết chuẩn hóa và bộ dữ liệu khảo sát thực nghiệm 50 doanh nghiệp.
  • Use case: Làm tài liệu tham khảo nghiên cứu các chuyên đề về cấu trúc vốn, tài trợ dự án và quản trị rủi ro tín dụng phi ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Cho thuê tài chính khác biệt như thế nào so với vay vốn tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng? Điểm khác biệt căn bản nằm ở quyền sở hữu tài sản và điều kiện cấp vốn. Trong cho thuê tài chính, công ty cho thuê nắm giữ quyền sở hữu tài sản trong suốt thời gian hợp đồng và không yêu cầu khách hàng thế chấp bất động sản bổ sung. Dữ liệu thực tế cho thấy 94,24% doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu tài sản bảo đảm có thể tận dụng kênh này để tiếp cận nguồn vốn tài trợ máy móc lên đến 85% - 100% giá trị thiết bị.

2. Nguyên nhân nào khiến chi phí cho thuê tài chính tại Việt Nam thường cao hơn lãi suất ngân hàng? Có 68% doanh nghiệp trong khảo sát khẳng định chi phí thuê tài chính cao hơn do các công ty cho thuê không có chức năng huy động tiền gửi ngắn hạn giá rẻ từ dân cư. Việc phải vay lại từ các ngân hàng thương mại với tỷ trọng lên tới 57,75% nguồn vốn, cộng với việc thu thêm tiền ký quỹ từ 5% đến 10% giá trị tài sản đã trực tiếp đẩy chi phí vốn đầu vào và lãi suất cho thuê lên cao.

3. Vì sao nghiệp vụ cho thuê vận hành chưa thể phát triển mạnh mẽ tại thị trường Việt Nam? Cho thuê vận hành đòi hỏi bên cho thuê phải chịu toàn bộ chi phí bảo dưỡng, bảo hiểm và rủi ro thanh khoản tài sản cũ. Các công ty cho thuê tài chính Việt Nam hiện có quy mô vốn điều lệ nhỏ bé (phổ biến từ 200 đến 800 tỷ đồng), thiếu đội ngũ kỹ sư thẩm định công nghệ chuyên sâu và thị trường mua bán máy móc thứ cấp trong nước chưa hoàn thiện để thanh lý tài sản thu hồi.

4. Bài học cốt lõi từ sự sụp đổ và tỷ lệ nợ xấu trên 95% của Công ty ALC II là gì? Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tỷ lệ nợ xấu 95,95% tại ALC II là do buông lỏng quy trình thẩm định và tập trung thái quá vào tài sản tàu biển (chiếm 47,83% toàn ngành). Đây là nhóm tài sản có tính thanh khoản kém, khó quản lý vị trí địa lý trên biển và chịu biến động tiêu cực từ suy thoái vận tải biển quốc tế, cho thấy tầm quan trọng của việc đa dạng hóa danh mục tài trợ.

5. Doanh nghiệp cần chuẩn bị những điều kiện gì để được duyệt hồ sơ thuê tài chính nhanh chóng? Doanh nghiệp cần chứng minh tính khả thi kinh tế của dự án đầu tư thiết bị và năng lực dòng tiền trả nợ định kỳ. Khảo sát thực tế chỉ ra rằng việc minh bạch báo cáo tài chính, chuẩn bị sẵn nguồn vốn đối ứng từ 10% đến 20% và lựa chọn nhà cung cấp máy móc thiết bị có cam kết bảo hành chính hãng là các yếu tố then chốt giúp rút ngắn thời gian phê duyệt hồ sơ xuống dưới 5 ngày.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về thị trường cho thuê tài chính, chỉ rõ vai trò tài trợ hiện đại hóa công nghệ cho 94,24% doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ tại Việt Nam.
  • Đánh giá toàn diện bức tranh thị trường giai đoạn 1999 - 2013 với quy mô dư nợ đạt 19.001 tỷ đồng, phản ánh sự phân hóa chất lượng tài sản giữa khối công ty cổ phần (nợ xấu dưới 1%) và khối công ty quốc doanh (nợ xấu trên 90%).
  • Khảo sát thực nghiệm 50 doanh nghiệp làm sáng tỏ các điểm nghẽn về tiếp cận thông tin, chi phí sử dụng vốn và thủ tục hành chính sở hữu tài sản.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi tác động đồng bộ lên nguồn vốn, đa dạng hóa sản phẩm, quy trình quản trị rủi ro và khung khổ pháp lý giai đoạn 2015 - 2020.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng cần nhanh chóng hoàn thiện cơ chế cho thuê vận hành và số hóa quy trình thẩm định để giải phóng nguồn vốn trung dài hạn cho nền kinh tế.