mở đầu và cũng vừa là khâu kết thúc của một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Do đó nếu tổ chức tốt trong khâu thanh toán thì sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn giúp người bán thu hồi vốn nhanh để phục vụ tốt cho chu kỳ sản xuất sau, giúp người mua nhanh chóng có vật tư, hàng hóa, nguyên vật liệu để bắt đầu một chu kỳ sản xuất mới. Qua nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã rút ngắn được thời gian thanh toán, tiết kiệm vốn, tăng nhanh tốc độ quay vòng của vốn góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. - Đối với nền kinh tế, việc tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm chi phí trong việc in ấn, bảo quản, vận chuyển tiền mặt.
Đối với các tổ chức và cá nhân Như đã phân tích ở trên, thanh toán không dùng tiền mặt góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn và quá trình tái sản xuất trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác, thanh toán không dùng tiền mặt đảm bảo sự an toàn về vốn, tránh được những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra trong quá trình thanh toán. Đặc biệt trong những trường hợp giao dịch thanh toán có giá trị lớn hay khoảng cách giữa người mua và người bán xa thì thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giúp khách hàng không 4 phải vận chuyển một số lượng lớn tiền mặt hay phải gặp trực tiếp nhau để giao tiền. Đối với các ngân hàng và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán Khi cung cấp dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, ngân hàng và các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán sẽ thu được phí dịch vụ từ khách hàng.
Phí dịch vụ này có thể thu từ người chi trả hoặc từ người nhận tùy theo từng phương thức thanh toán hay thỏa thuận giữa các khách hàng. Đây là một nguồn thu đáng kể của ngân hàng và các tổ chức cung ứng dịch thanh toán. Mặt khác, nếu ngân hàng làm tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt thì sẽ thu hút khách hàng đến với ngân hàng của mình và sử dụng tiếp các dịch vụ khác. Để sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, các đơn vị sản xuất kinh doanh và cá nhân phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng nhằm thực hiện chuyển tiền đi thanh toán hay nhận tiền về.
Vì vậy, trên tài khoản luôn luôn có một số tiền nhất định để phục vụ cho công tác thanh toán. Đây chính là nguồn vốn tiềm tàng chảy vào ngân hàng. Bên cạnh đó, khi khách hàng đã mở tài khoản tiền gửi thanh toán và sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thì khách hàng có thể sử dụng tiếp các sản phẩm dịch vụ khác của chính ngân hàng này như tín dụng, mở tài khoản thẻ, gửi tiết kiệm,… 1. Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt 1.1 Nhân tố chủ quan * Nhân tố con người Trong hoạt động TTKDTM của ngân hàng, chất lượng của sản phẩm dịch vụ mà khách hàng cảm nhận được chính là sự tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có yếu tố thuộc về đội ngũ nhân viên ngân hàng.
Cán bộ, nhân viên là người trực tiếp giao dịch với khách hàng, vì vậy, thái độ và trình độ của họ quyết định phần lớn đến chất lượng dịch vụ và hình ảnh của ngân hàng. Cán bộ ngân hàng phải là những người có trình độ, năng lực chuyên môn sâu, phẩm chất đạo đức tốt, thái độ phục vụ nhanh nhẹn, nhiệt tình. Chính vì con người có một vai trò quan trọng trong việc thu hút một khối lượng lớn khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, nên khi thực hiện thanh toán, các cán bộ ngân hàng chính là cầu nối giữa các bên tham gia thanh toán. Bởi vậy, đội ngũ cán 5 bộ của NHTM là một yếu tố tiên quyết có ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động TTKDTM nói riêng và hoạt động chung của ngân hàng.
* Công nghệ ngân hàng Việc ứng dụng các thành tựu công nghệ tin học và tự động hóa vào thanh toán sẽ đáp ứng được yêu cầu nhanh chóng, chính xác, an toàn và tiết kiệm được chi phí trong thanh toán. Các hoạt động huy động, chi trả tiền gửi cho khách hàng và thanh toán có thể được thực hiện trên các chương trình phần mềm máy tính vừa chính xác, an toàn, nhanh chóng và tiện lợi. Các NHTM có thể mở rộng các dịch vụ của mình qua các trang web, đây là một cách tiếp cận, quảng bá và cung cấp dịch vụ ngân hàng tới hàng triệu người với chi phí rất thấp. Để mở rộng TTKDTM các ngân hàng tham gia thanh toán điện tử liên ngân hàng, đưa vào sử dụng hệ thống máy rút tiền tự động.
* Hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng Với chức năng trung gian thanh toán và trung gian tài chính trong nền kinh tế quốc dân, hệ thống các NHTM đã tăng khối lượng tiền tệ lên gấp bội thông qua cơ chế thanh toán chuyển khoản. Điều này đã làm cho các chức năng của NHTM ngày càng liên hệ chặt chẽ với nhau. Sự phát triển của mỗi chức năng sẽ thúc đẩy các chức năng khác phát triển theo. Do đó, khi hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng phát triển vững mạnh sẽ thúc đẩy chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng phát triển để hỗ trợ cho các hoạt động khác của ngân hàng và ngược lại, khi hoạt động kinh doanh của ngân hàng rơi vào tình trạng yếu kém, không phát triển thì cũng kìm hãm sự phát triển của hoạt động TTKDTM tại ngân hàng đó.2 Nhân tố khách quan * Môi trường kinh tế vĩ mô Một nền kinh tế phát triển ổn định sẽ là môi trường thuận lợi cho sự phát triển TTKDTM.
Nền kinh tế phát triển mạnh, hàng hóa được sản xuất ra và tiêu dùng với khối lượng lớn. Các cá nhân, doanh nghiệp sẽ có khuynh hướng ưa chuộng việc sử dụng ngân hàng như là một trung gian thanh toán bởi các ngân hàng cung cấp các tiện ích cho phép các khách hàng tham gia thanh toán có thể giảm được các chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm khi sử dụng hình thức thanh toán 6 bằng tiền mặt đồng thời làm cho quá trình thanh toán được nhanh chóng, chính xác và an toàn hơn. * Môi trường pháp lý Hiện nay, mọi hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM đều bị chi phối bởi pháp luật, mọi sự thay đổi dù nhỏ của pháp luật cũng sẽ tạo cơ hội và thách thức mới cho ngành ngân hàng. TTKDTM là một trong những hoạt động cơ bản của NHTM nên cũng chịu ảnh hưởng lớn từ sự thay đổi của hành lang pháp lý.
Trong một nền kinh tế phát triển, mọi giao dịch của các tổ chức kinh tế và dân cư đều được thực hiện qua ngân hàng, một sự thay đổi nhỏ cũng sẽ ảnh hưởng tới toàn hệ thống. Vì vậy, khi hành lang pháp lý thay đổi, ngành ngân hàng phải có thời gian để thích ứng và chi phí để thích ứng rất lớn. * Thói quen, tâm lý Tâm lý chịu tác động rất lớn từ môi trường con người sống và làm việc. Trong một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, con người có xu hướng thích sử dụng tiền mặt, do đó TTKDTM là không phổ biến, từ đó hạn chế sự phát triển TTKDTM của các ngân hàng.
Ngược lại, trong nền sản xuất lớn, hiện đại, hoạt động TTKDTM của ngân hàng rất phát triển do con người có xu hướng thích sử dụng các tiện ích ngân hàng hiện đại. Trình độ dân trí thấp sẽ sinh ra tâm lý “ngại” khi sử dụng các phương tiện hiện đại có độ phức tạp cao, do đó TTKDTM không phát triển. Thuế đánh quá cao làm cho con người có hành vi trốn thuế, từ đó sinh ra tâm lý thích tiền mặt. Rủi ro trong thanh toán không dùng tiền mặt 1.
Quan niệm về rủi ro TTKDTM Rủi ro TTKDTM là tổn thất cho Ngân hàng hoặc khách hàng khi việc TTKDTM qua Ngân hàng không đảm bảo đầy đủ quyền lợi hoặc nghĩa vụ tài chính của các bên tham gia vì những lý do nào đó.2 Các dạng rủi ro TTKDTM * Rủi ro do giả mạo, gian lận Những kẻ hở trong quy trình nghiệp vụ, cũng như sự không đáp ứng được nền tảng kỹ thuật công nghệ là nguyên nhân dẫn đến gian lận, giả mạo trong thanh toán như giả mạo chữ ký, séc giả mạo, đặc biệt là trong thanh toán thẻ: thẻ giả, đánh cắp 7 thông tin thẻ, hay do sự lơ đễnh của chủ thẻ để lộ thông tin cá nhân liên quan đến thẻ, hoặc bị kẻ gian thực hiện ăn cắp mật mã,…Hình thức tinh vi về gian lận thanh toán thẻ còn ở chỗ đơn vị chấp nhận thẻ phối hợp với các tổ chức tội phạm lấy cắp thông tin trên băng từ của thẻ thật sử dụng tại đơn vị mình để tạo thẻ giả. Việc đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho thanh toán của các ngân hàng hiện nay còn chạy theo số lượng, đầu tư chủ yếu vào các thiết bị hữu hình như máy ATM … mà thiếu đầu tư vào chiều sâu như trang bị các phần mềm bảo mật, phần mềm tích hợp kết nối với các thiết bị ngoại vi khác khi điều kiện công nghệ thay đổi. Vì vậy giả mạo và gian lận trong thanh toán ngân hàng, đặc biệt đối với thanh toán thẻ còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. * Rủi ro về kỹ thuật, vận hành Việc quản lý người sử dụng các chương trình giao dịch của ngân hàng lỏng lẻo dễ dẫn đến tình trạng gian lận trong chuyển tiền, cũng như hệ thống công nghệ không được đầu tư đúng mức, công tác cập nhật, bảo quản không được quan tâm một cách nghiêm túc để kẻ gian xâm nhập hệ thống đánh cắp dữ liệu, thông tin,… Loại rủi ro này cần rất cần được quan tâm vì khi sự cố xảy ra, tác hại của nó rất lớn.
Nó không chỉ ảnh hưởng đến khách hàng, mà còn gây tác hại đến cả hệ thống thanh toán của ngân hàng, đặc biệt đối với thanh toán thẻ. * Rủi ro về đạo đức của cán bộ ngân hàng Con người là yếu tố quan trọng đem lại sự thành công hay thất bại trong việc thúc đẩy phát triển TTKDTM, vì tất cả những rủi ro và giải pháp phòng ngừa rủi ro là do yếu tố con người tạo nên. Một thực tế là lỗi cơ bản sai sót là do con người gây ra không phải là ít, cũng có thể do trình độ nghiệp vụ yếu, xử lý quy trình tác nghiệp, kiểm tra kiểm soát nội bộ không thực hiện đúng quy định.